Đề bài: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nghệ thuật kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình trong văn bản Nỗi buồn làng chiếu của Tiêu Dao – Bảo Anh.
NỖI BUỒN LÀNG CHIẾU (trích)
(Tiêu Dao – Bảo Anh)
Từng suy rồi thịnh, từng có cả trăm hộ làm nghề nhưng rồi bây giờ khung dệt bụi phủ, tay người chênh chao. Nỗi niềm của làng chiếu chẳng mấy người thấu tỏ khi chỉ duy nhất một bà lão còn dệt chiếu, nhưng cũng đầy chông chênh.
Gió buồn lay đồng cói
Làng Cẩm Nê (xã Hoà Tiến, Hoà Vang, Đà Nẵng) giờ đã khác khi đời sống người dẫn khấm khá hơn rất nhiều, bao quanh vẫn là đồng lúa đang chín vàng và chon von những ngôi nhà 2 – 3 tầng rợp bóng cây xanh. Làng từng nổi tiếng với nghề dệt chiếu, có những chiếc chiếu đặc biệt dệt để tiến vua. Người làng trong câu chuyện mỗi tối, vẫn cứ nhớ về cha ông mình với câu chuyện về một chiếc chiếu hoa được tiến kinh ngày trước. Chiếu rộng 2,5 mét và dài tới 25 mét, được những người dệt chiếu lão luyện làm trong gần một tháng. Nhờ chiếc chiếu ấy, người làng đã được ban thưởng trọng hậu và sau kì tích đó, tiếng tăm chiếu Cẩm Nê đã bay đi khắp nước.
[…] Nhưng làng chiếu bây giờ dường như chỉ còn cái tên, bởi chẳng còn những lách cách thoi đưa, những sợi cói rực rỡ trong nắng, những bãi đay bãi lúc rì rào trong gió, tất cả chỉ là một thời quả vãng. Những cơn lốc của thị trường đã cuốn làng chiếu lao đao. Nào là những sản phẩm đệm, rồi chiếu nhựa, chiếu công nghiệp, thảm các loại với giá rẻ đã đánh sập cái nghề truyền thống mấy trăm năm của làng.
Quả trưa, bà Dương Thị Thông (65 tuổi) mới tất tả đạp xe về. Bà là con gái cụ Ngô Thị Thân – một nghệ nhân dệt chiếu hơn 70 năm làm nghề của làng. Bà Thông, con gái cụ, cũng là một nghệ nhân, nhưng lại là người cuối cùng còn dệt chiếu ở làng. Trước cửa, tấm biển giới thiệu sản phẩm làng nghề chiếu Cẩm Nê của bà đã bạc như cái nghề của cha ông đang lay lắt ở chính nơi này. Giờ bà Thông chỉ thi thoảng mới dệt chiếu, khi có khách đặt hàng, hay khi có đoàn du lịch tới thăm và chỉ những dịp cuối năm, khi việc nông đã vãn, việc làm thuê cũng vơi, còn lại ngày ngày bà đi phụ hồ, đi nấu đám tiệc, hay làm các công việc lặt vặt khác. Bởi, nghề gia truyền giờ không còn nuôi sống nổi thân mình, bỏ thì cũng tiếc lắm chứ! Cái nghề dệt chiếu như máu như thịt, là nghề gia truyền khi ông bà nội và cha mẹ bà cũng là những nghệ nhân dệt chiếu trong làng. Tuy trải nhiều giai đoạn thăng trầm, gia đình bà vẫn cố gắng giữ cho được nghề. Ngay từ năm 10 tuổi, bà Thông đã được cha mẹ truyền lại và cho đến nay, bà đã gắn bó với nghề hơn 55 năm qua.
Trong mạch ngầm trí nhớ, bà Thông vẫn mường tượng ra cảnh người làng từ già đến trẻ, người trồng lác, người chăm đay, người xe sợi, người nhuộm cói,… tiếng gọi tiếng cười, tiếng thoi tiếng cửu rộn ràng với cả tiếng mua bán giăng kín cả làng chiếu này. […]
Công làm một chiếc chiếu không hề nhỏ, từ việc gặt lác, chặt đay về đem phơi, rồi nấu phẩm lên và nhúng sợi lác vào, nhúng từng nắm một và mang phơi nắng. […] Mỗi khung dệt có hai người tham gia. Trong đó, một người luồn cói và người kia dùng go dệt cói vào đay cho chắc chắn. Chiếu dệt xong mang phơi khắp sân, rồi cuối cùng ghim các đầu dây đay để cho hai đầu chiếu khỏi bung ra. […] Mỗi đôi chiếu đặt làm đặc biệt thì giá 700.000 – 800.000 đồng, tương đương với chiếu trúc làm máy. Sau khi trừ tiền thuê nhân công và nguyên vật liệu thì gần như không còn một đồng lời. Do không có nguồn nguyên liệu tại chỗ, người làng chiếu phải đặt mua sợi cói từ địa phương khác, lấy công phơi, nhuộm cói, dệt chiếu làm lời. Mỗi chiếc chiếu thủ công thông thường được bán với giá khoảng 250.000 300.000 đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí, số tiền bán được có khi cũng không đủ trang trải cuộc sống. Bởi vậy, cái nghề cứ dần lụi đi trông thấy.
Người còn nhớ tiếng thoi đưa
Tôi đi khắp làng, ngang qua những xóm Đùng, xóm Đồng Khánh, xóm Bến Đò, xóm Bến Bắc, xóm Dinh, xóm Làng,… chẳng còn vang tiếng loạch xoạch của người làm chiếu nữa. Nhiều người già trong làng cũng đau đáu với cái nghề của cha ông. Nhưng, đành chịu. Cuộc sống của những người làm chiếu rơi vào khó khăn, người làng lần lượt bỏ nghề, những khung dệt dần đóng bụi. “Cách đây 5 – 7 năm, sau nhiều năm cất giữ với ước mong hồi sinh làng nghề, nhiều nhà đành phá khung dệt vì chật nhà. Người làng cái tay không còn quen đưa thoi, bàn chân không còn quen dập, con mắt không còn quen nhìn màu nhuộm nữa. Đau lòng lắm!”, bà Ngô Thị Mua (66 tuổi, trú thôn Cẩm Nê), người phụ làm chiếu với bà Thông bộc bạch.
Còn bà Thông gắn bó với nghề hơn 50 năm, trải qua biết bao những thăng trầm cùng khung dệt, bà Thông vẫn không nỡ rời xa. Ngày trước cả làng có khoảng 200 hộ nhưng hộ nào cũng dệt chiếu mưu sinh. Khung cảnh làng quê nhộn nhịp lắm. Còn bây giờ, gần 700 hộ dân mà chỉ còn mình bà Thông bám trụ. Nguyện vọng duy nhất của bà là giữ nghề cho đến khi nằm xuống. Không làm thường xuyên nữa nhưng cần thì vẫn dệt chiếu để giữ lấy thương hiệu làng nghề. Dù vậy, tuổi đã cao, thỉnh thoảng bà Thông mới ngồi vào khung dệt. Chiếc khung dệt hầu như nằm lặng lẽ ở góc sân mà nhớ bàn tay đưa thoi.
(Trích Nỗi buồn làng chiếu, https://antg.cand.com.vn/Phong-su/noi-buon-lang- chieu-i733372/, 06/06/2024)

Bài làm Phân tích nghệ thuật kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình trong văn bản Nỗi buồn làng chiếu
A. Yêu cầu
– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.
– Xác định đúng vấn đề nghị luận: nghệ thuật kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình trong văn bản “Nỗi buồn làng chiếu” của Tiêu Dao – Bảo Anh.
– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.
B. Hướng dẫn gợi ý
I. MỞ BÀI
-
Giới thiệu khái quát về tác giả: Tiêu Dao – Bảo Anh là cây bút phóng sự – ký nổi bật với lối viết chân thực nhưng giàu cảm xúc, thường khai thác đời sống văn hóa truyền thống.
-
Giới thiệu văn bản Nỗi buồn làng chiếu: Một phóng sự mang đậm hơi thở hiện thực về sự mai một của nghề dệt chiếu ở làng Cẩm Nê.
-
Dẫn vào vấn đề nghị luận: Thành công của văn bản nằm ở sự hòa quyện giữa tự sự và trữ tình, giúp câu chuyện về làng nghề vừa chân thực vừa lay động.
“Nỗi buồn làng chiếu” của Tiêu Dao – Bảo Anh là một thiên ký đặc sắc viết về làng nghề dệt chiếu Cẩm Nê (Đà Nẵng). Nếu yếu tố hiện thực làm cho tác phẩm có sức nặng về thông tin, thì yếu tố cảm xúc lại giúp nó chạm đến trái tim người đọc. Thành công nổi bật của văn bản chính là nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, khiến câu chuyện về một làng nghề thất truyền trở thành nỗi niềm chung của nhiều thế hệ.
II. THÂN BÀI
1. Yếu tố tự sự – nền tảng phản ánh hiện thực đời sống
a. Ghi chép trung thực về lịch sử và sự biến đổi của làng nghề
-
Từng thời hưng thịnh với hàng trăm hộ dệt chiếu, nổi tiếng với chiếu tiến vua.
-
Nay nghề chỉ còn lại một người duy trì – bà Dương Thị Thông.
→ Tự sự giúp người đọc nắm được bối cảnh, hiểu được độ sâu của sự mất mát.
b. Miêu tả cụ thể quá trình sản xuất chiếu và đời sống người thợ
-
Quy trình công phu: gặt lác, phơi, nhuộm, luồn sợi, dệt, phơi chiếu, ghim đầu chiếu.
-
Giá trị kinh tế thấp, công sức nhiều, nguyên liệu phải mua từ nơi khác.
→ Những chi tiết tỉ mỉ khiến câu chuyện mang tính tư liệu rõ rệt.
c. Khắc họa nhân vật người giữ nghề
-
Bà Thông hơn 50 năm gắn bó, nay phải làm phụ hồ, phụ bếp để mưu sinh.
-
Các hộ dân khác đành bỏ nghề vì khung dệt chiếm chỗ, sản phẩm không bán được.
→ Tự sự làm hiện lên chân dung người thật, việc thật, đời thật.
2. Yếu tố trữ tình – chiều sâu cảm xúc của tác giả
a. Giọng văn buồn thương, xót xa trước sự mai một
-
“Khung dệt bụi phủ”, “tay người chênh chao”, “khung dệt nằm lặng lẽ ở góc sân”…
→ Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, truyền tải nỗi tiếc nuối.
b. Hoài niệm về thời vàng son của làng chiếu
-
Câu chuyện về chiếu tiến vua rộng 2,5m, dài 25m là biểu tượng cho niềm tự hào.
→ Trữ tình khơi gợi lại kí ức đẹp, làm quá khứ hiện lên với ánh sáng tôn vinh.
c. Đồng cảm với người nghệ nhân cuối cùng
-
Nỗi buồn thấm qua lời kể: sự kiên trì của bà Thông, sự bất lực của người làng.
-
Hình ảnh “nhớ bàn tay đưa thoi” mang tính nhân văn sâu sắc.
→ Trữ tình giúp câu chuyện vượt khỏi phạm vi thông tin, chạm tới cảm xúc nhân sinh.
3. Nghệ thuật kết hợp tự sự – trữ tình trong văn bản
a. Tự sự tạo khung hiện thực – trữ tình thổi hồn cảm xúc
-
Các sự kiện, số liệu, lời kể chính xác → tạo tính khách quan, độ tin cậy.
-
Cảm xúc, ví von, hình ảnh gợi → làm mềm hóa chất phóng sự, khiến bài viết có hồn.
b. Hai yếu tố hòa quyện tự nhiên trong từng đoạn
-
Sự tàn lụi của làng nghề vừa kể, vừa cảm.
-
Những câu chuyện về người dân vừa chân thực, vừa chan chứa thương mến.
c. Góp phần nâng cao giá trị tư tưởng của tác phẩm
-
Vừa phản ánh hiện thực: nghề truyền thống bị cạnh tranh, bị bỏ rơi.
-
Vừa gợi thức tỉnh: cần trân trọng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
III. KẾT BÀI
-
Khẳng định lại: Sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình đã làm cho Nỗi buồn làng chiếu trở thành một phóng sự giàu tính nhân văn, có khả năng lay động mạnh.
-
Liên hệ: Tác phẩm đặt ra câu hỏi cho mỗi người hôm nay: chúng ta sẽ làm gì để những giá trị truyền thống không trở thành “nỗi buồn” trong tiếc nuối?
Có thể nói, bằng bút pháp kết hợp tự sự và trữ tình, Tiêu Dao – Bảo Anh đã để lại một áng ký giàu sức gợi, khiến người đọc không chỉ hiểu hơn về nghề chiếu Cẩm Nê mà còn lắng lại với nhiều trăn trở về việc giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc. “Nỗi buồn làng chiếu” vì thế không chỉ là nỗi niềm riêng của một làng quê, mà còn là lời nhắc nhở đầy tha thiết đối với hôm nay và mai sau.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
