So sánh nhân vật Cụ Tứ trong Vợ nhặt và bà lão trong Một bữa no

Bình chọn

Đề bài: Viết bài văn phân tích So sánh nhân vật Cụ Tứ trong Vợ nhặt và bà lão trong Một bữa no.

So sánh nhân vật Cụ Tứ trong Vợ nhặt và bà lão trong Một bữa no

So sánh nhân vật Cụ Tứ trong Vợ nhặt và bà lão trong Một bữa no – Mẫu 1

Trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại, hình ảnh người bà, người mẹ lam lũ luôn để lại những dư âm sâu lắng. Ở đó, ta bắt gặp những bóng dáng tảo tần, nhẫn nại, lấy tình thương làm điểm tựa giữa cuộc đời cơ cực. Qua truyện ngắn Một bữa no của Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân, hai hình tượng người bà, người mẹ nghèo trước Cách mạng tháng Tám hiện lên vừa tương đồng vừa khác biệt, phản ánh những cách nhìn riêng của mỗi nhà văn. Tuy cùng xuất phát từ hiện thực đói nghèo tăm tối, nhưng mỗi tác giả lại có một cách nhìn và cách thể hiện riêng, tạo nên những sắc thái khác biệt giàu ý nghĩa.

Trước hết, điểm tương đồng dễ nhận thấy là cả hai nhân vật đều sống trong cảnh nghèo đói cùng cực. Bà lão trong Một bữa no phải đi ăn chực để tồn tại qua ngày, sống lay lắt giữa sự khinh rẻ và đói khát triền miên. Bà cụ Tứ trong Vợ nhặt cũng không khá hơn khi tuổi già phải đối diện với nạn đói khủng khiếp, gia đình rơi vào túng quẫn, cái chết luôn rình rập. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, họ vẫn hiện lên với tình thương dành cho con cháu. Bà lão dù đói vẫn nghĩ đến đứa cháu nhỏ, còn bà cụ Tứ dù nghèo khó vẫn dang tay đón nhận người vợ nhặt của con trai, cố gắng vun vén cho tổ ấm mong manh giữa ngày đói. Ở họ sáng lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống: nhẫn nhịn, bao dung và giàu lòng hi sinh.

Tuy nhiên, sự khác biệt lại nằm ở cách nhìn và cách xây dựng nhân vật của hai nhà văn. Nam Cao nhìn thẳng vào sự tha hóa mà đói nghèo có thể gây ra cho con người. Bà lão trong Một bữa no không chỉ đáng thương mà còn gợi lên nỗi xót xa khi nhân cách bị bào mòn bởi cơn đói. Sự tham ăn, mất tự chủ của bà trong bữa no hiếm hoi đã đẩy nhân vật đến cái chết bi thảm. Qua đó, Nam Cao như muốn tố cáo xã hội tàn nhẫn đã dồn con người vào bước đường cùng, khiến họ không chỉ khổ về thể xác mà còn tổn thương cả phẩm giá.

Ngược lại, Kim Lân lại khai thác nhân vật bà cụ Tứ ở chiều sâu nhân hậu và ánh sáng hi vọng. Trong tình huống con trai “nhặt” được vợ giữa nạn đói, bà không hắt hủi mà lặng lẽ chấp nhận, thậm chí còn động viên các con hướng về tương lai. Dù nước mắt lặng lẽ rơi, bà vẫn cố gieo vào lòng các con niềm tin về một ngày mai tươi sáng. Ở nhân vật này, đói nghèo không thể dập tắt tình thương và khát vọng sống.

Qua việc xây dựng hai hình tượng người bà, người mẹ, có thể thấy sự đa dạng trong cảm hứng và bút pháp của hai nhà văn. Nếu Nam Cao nghiêng về cái nhìn hiện thực phê phán sắc lạnh, thì Kim Lân lại thiên về cảm hứng nhân đạo ấm áp, tin tưởng vào phẩm chất tốt đẹp của con người. Dù khác biệt, cả hai đều góp phần làm nổi bật số phận bi thương của người phụ nữ trong xã hội cũ, đồng thời gửi gắm những suy tư sâu sắc về giá trị con người. Chính điều đó đã tạo nên chiều sâu nhân văn bền vững cho văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

So sánh nhân vật Cụ Tứ trong Vợ nhặt và bà lão trong Một bữa no – Mẫu 2

Ai đó đã từng nói: “Tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”. Phải chăng vì vậy mà ta có thể bắt gặp nhiều nghệ sĩ có phong cách hoàn toàn khác nhau nhưng một điểm giao lộ của hai hành trình kiếm tìm và khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người. Kim Lân với truyện ngắn Vợ nhặt và Nam Cao với tác phẩm Một bữa no là một trường hợp như vậy. Cả hai tác phẩm đã thành công trong việc khắc họa hình ảnh người dân Việt Nam những năm 1945, qua hai nhân vật bà cụ trong Vợ nhặt và bà lão trong Một bữa no.

Cả hai tác phẩm đều được sáng tác vào khoảng thập niên bốn mươi của thế kỉ XX, lúc đất nước đang trong giai đoạn khó khăn và trải qua nạn giặc đói và nạn giặc dốt. Tác phẩm Vợ nhặt được sáng tác năm 1946, được in trong tập Con chó xấu xí. Truyện kể về Tràng là một người dân nghèo khổ, cư ngụ ở xóm ngụ cư. Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh, Tràng đã quen với một cô gái. Vài ngày sau gặp lại, Tràng đã không còn nhận ra cô gái ấy, bởi cô tiều tụy và hốc hác đi nhiều lắm. Chỉ qua vài câu nói bông đùa và bốn bát bánh đúc, anh với cô thị dân đã chồng lơn đã trở thành vợ chồng với nhau mà không cưới hỏi hay yêu đương gì. Có thị theo không anh về làm vợ, trên đường về khác với dáng dấp thường thấy, khi đi trêu, cô thị tỏ ra ngượng ngùng. Về đến nhà, cô khép nép khác thường. Việc Tràng nhặt được vợ đã làm cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, nhất là bà Cụ Tứ (mẹ của Tràng) cũng bàng hoàng, ngạc nhiên và lo lắng nhưng rồi bà cụ cũng đã hiểu ra và chấp nhận người con dâu ấy. Trong bữa cơm “đón nàng dâu mới”, họ chỉ ăn với nhau một bữa cháo và cháo cám. Nhưng trong bữa cơm ấy, bà cụ Tứ đã dành cho nàng dâu mới một tấm lòng độ lượng, bao dung. Tác phẩm kết thúc với chi tiết khi nghe vợ nói về kho thóc Việt Minh, trong đầu Tràng đã nhớ lại hình lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

Đọc truyện Một bữa no của Nam Cao, được sáng tác năm 1943, được trích từ “Tuyển tập Nam Cao” của nhà xuất bản thời đại. Một bữa no kể về một bà lão chồng mất sớm, cả đời cặm cụi nuôi con. Đến khi con lớn, tưởng chừng như sẽ có thể nương tựa và nhờ vả được con, thì lại chịu cảnh “người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh”. Vợ con trai bà sau khi chịu tang chồng cũng bỏ bà cùng con gái đi tìm hạnh phúc mới. Bà đã nuôi đứa cháu trong nhiều năm liền. Nhưng rồi do quá khó khăn bà đã phải bán đứa cháu gái duy nhất cho nhà bà Phó làm con nuôi. Nhưng sau khi bán cháu gái thì cuộc sống của bà không mấy dễ dàng hơn. Bà dành tấm phần tiền để lo mả cho con trai, còn hai phần dành dụm mà sống, nhưng ông trời lại bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh, số tiền ít ỏi cũng dần vơi đi không ít. Hôm ấy bà ra thăm cái đĩ, nhưng bà lại bị bà phó thự đạp lên lòng tự trọng của bà, bà được đãi một bữa ăn nhưng lại là một bữa ăn của sự khinh thường. Bà nén lại lòng tự trọng do quá đói mà ăn bán sống bán chết. Đó là bữa cơm no nhất của bà cũng chính là bữa cơm cuối cùng của đời bà.

Đến với nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, bà là mẹ anh cu Tràng, một người phụ nữ góa chồng, nghèo khó, cả cuộc đời bà đã vất vả để nuôi con, thế nhưng đến cuối đời lại chẳng được sống an nhàn, sung sướng. Bà xuất hiện ở đoạn giữa của tác phẩm với dáng đi chậm chạp, đôi mắt mờ đục, vừa đi vừa ho húng hắng, miệng lẩm bẩm tính toán điều gì đó. “Ngoài ngõ có tiếng ho húng hắng, một bà lão từ rặng tre lỏng khòng đi vào ngõ. Bà lão vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán trong miệng.” Khi anh Tràng dẫn cô “vợ nhặt” của mình về, trong lòng bà nổi lên biết bao thắc mắc. Những câu hỏi liên tục vang lên trong đầu bà: “Quái, sao lại có một người đàn bà ở trong ấy?”, “Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình?”, “Sao lại chào mình bằng ‘u’?”. Rồi bà cụ quay sang nhìn con trai để chờ giải thích. Khi đã hiểu ra mọi chuyện, bà im lặng, nhưng suy nghĩ của bà xoay quanh việc con trai bà lấy vợ. Với vai trò một người mẹ, bà hiểu rằng chuyện con trai lấy vợ là điều hợp lý, vì Tràng đã đến tuổi dựng vợ. Thương con, bà lại càng buồn tủi, xen lẫn với đó là sự tủi thân của một người mẹ khi không thể lo cho con mình đàng hoàng: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng lúc nhà cửa đầy đủ, còn mình thì…”. Đáng ra việc cưới xin phải có “dăm ba mâm cơm”, nhưng “nhà mình nghèo quá”. Khi nhìn thị, bà đã nghĩ “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. Trong suy nghĩ của người mẹ ấy, Thị chính là người mang ơn và con trai bà chính là người chịu ơn. Điều đó chứng tỏ bà không hề coi thường khinh bỉ người vợ nhặt mà còn cảm thông trân trọng dù cho Thị chỉ là người đàn bà rách rưới, nghèo đói và không gia đình.

Bà lão lại tiếp tục day dứt “chẳng lo lắng được cho con…”. Bà phó thác, chồng chất vào sự may rủi “may ra mà qua khỏi được cái đói này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết làm thế nào lo cho hết được”. Qua đây, ta có thể thấy bà cụ Tứ là một người mẹ hiền từ, chất phác, vị tha, nhân hậu, âm thầm hi sinh vì hạnh phúc của con. Bà là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ nghèo Việt Nam. Trong tác phẩm Vợ nhặt, ta có thể thấy Kim Lân đã khắc họa hình ảnh bà cụ Tứ qua những chi tiết nội tâm rất phức tạp: vui – buồn, mừng – tủi, thương lo đan xen, thương xót, thấu hiểu cho cảnh ngộ của người con dâu: “Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”, hay lo lắng cho tương lai của các con: “biết rằng nó có qua nổi cơn đói khát này không”, bà nghẹn lời… ròng ròng… Nhưng bà cũng đã vượt lên trên tất cả là niềm vui, niềm hi vọng, tin tưởng vào triết lí dân gian dị mà sâu sắc: “Ai giàu ba họ ai khó ba đời”, nghĩ đến những chuyện tốt đẹp ở tương lai. Qua nhân vật, tác giả đã mang đến cho người đọc thông điệp về giá trị của tình yêu thương con người và tinh thần ham sống mãnh liệt.

Đến với nhân vật bà lão trong tác phẩm Một bữa no của Nam Cao, bà được miêu tả là một người phụ nữ góa chồng, gà mái nuôi con. Trong tác phẩm, bà lão được khắc họa chi tiết qua cảnh bà xin ăn ở nhà bà Phó Thụ – nơi đang nhận nuôi cháu gái bà. Đấy thực chất không phải là một bữa ăn để tiếp khách mà là bữa cơm của những kẻ hầu hạ, người hạ trong nhà. Qua cách cư xử, giọng điệu mỉa mai, xem thường của bà Phó Thụ cũng đã để ta hiểu được sự tủi nhục của bà lão khi ăn cơm “chan nước mắt” này. Những biểu hiện khi đang đói của bà được tác giả miêu tả một cách chân thật qua “tay run so đũa”, “tay bà lão lờ đờ”, “lập cập quá, bà đánh rơi cả mâm ra ngoài bát”. Có lẽ bà cụ ấy đã đói lâu quá. Cái đói làm người ta mất hết sinh khí, người ta không kịp nghĩ ngợi nữa. Không chỉ dừng lại ở việc run rẩy vì đói, nét bất hạnh của bà còn được khắc họa qua từng suy nghĩ. Khi những người ở trong nhà vừa ăn vừa buông đùa theo hành động “quẳng bát đũa xuống đất” của bà Phó Thụ thì bà cụ lại ngạc nhiên và suy đoán. Bà đoán rằng họ khinh ăn. No đòn, đói gióp. “Người đói mà, vớ được một bữa, bát bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu”. Chính ý nghĩ ấy nên bà đã tự nhủ bản thân “Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến khi no. Đã ăn thì ăn từ từ”. Cách suy nghĩ của bà cụ thật đáng thương biết bao. Bà gọi bữa ăn hôm nay là “ăn rình”, “ăn chực”. Một bữa ăn đánh đổi cả nhân cách. Nhưng nhân cách còn có ý nghĩa gì nữa khi người ta đói. Nên “đã mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà cứ ăn như không biết gì”. Thậm chí “Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vữa hết. Chỉ còn ít bát đuôi đầy chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng. Bà cào cái nồi sồn sột. Bà râm rột”. Sau bữa ăn “Bà bỗng nhận ra bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nổi thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoải thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xốn xao. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Giá yêu thịt khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rã rời. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn”. Nhân vật bà lão suốt đời sống trong số kiếp nghèo đói, rách rưới, không nơi nương tựa, đã tố cáo lên án sự tàn bạo của xã hội phong kiến lúc bấy giờ.

Cả hai nhân vật trong hai tác phẩm trên đều là những người mẹ, người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là trong thời nạn đói, nhân vật bà cụ Tứ và bà lão đều có một người con trai duy nhất, nhưng không thể lo được cho con. Cả hai đã thể hiện được sự đau khổ, nỗi xót xa trước cảnh đói nghèo, sự dằn vặt trong lòng những bà mẹ khi không thể làm tròn trách nhiệm của một người mẹ. Đối với nhân vật bà cụ Tứ, bà tự tin, nghẹn lòng khi những chuyện hôn sự lại phải đến con mình “nhặt” một cô gái xa lạ về làm vợ, nhưng song bà cũng có niềm tin vào tương lai, có hi vọng tưởng vào triết lí nhân gian “Ai giàu ba họ ai khó ba đời”, nghĩ đến những chuyện tốt đẹp ở tương lai. Nhưng trái lại, nhân vật bà lão lại bán cháu gái của mình để lấy tiền trang trải, thêm cuộc đời eo éo khi gặp bạo bệnh, và cuối cùng là mặc cho sự chà đạp lên lòng tự trọng để ăn một bữa no, và rồi lại chết vì chính bữa ăn no đó. Bà ra đi trong sự đau khổ, tủi nhục, một bữa ăn đầy hèn hạ rồi lại chết một cách lặng lẽ. Điều này, có lẽ xuất phát từ việc Nam Cao là nhà văn với bút pháp hiện thực, lên án xã hội đen tối, dồn con người đến bước đường cùng, còn Kim Lân là nhà văn chuyên viết về người nông dân Việt Nam với phong cách giản dị, giàu tình thương đã dẫn đến sự khác nhau giữa hai nhân vật.

Khép lại những trang văn ấy, trong lòng người đọc vẫn luôn vương vấn biết bao cảm xúc. Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân và bà lão trong tác phẩm Một bữa no của Nam Cao đã gieo trong lòng người đọc về cái nghèo và sự tủi cực của con người Việt Nam trước năm 1945. Chính điều đó đã tạo nên sức sống bất diệt cho tác phẩm, càng làm cho người đọc thêm yêu và ghi nhớ những giá trị mà tác phẩm mang lại.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online