Đề bài: Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản Chỗ nào cũng nắng của Nguyễn Ngọc Tư
CHỖ NÀO CŨNG NẮNG
(Nguyễn Ngọc Tư)
Quá cái tuổi háo hức những món quà miệt vườn trong giỏ xách của mẹ, mỗi bận bà lên thăm anh hóng thứ khác: những câu chuyện của quê nhà.
Năm tiếng đồng hồ ngồi xe đò không ăn nhằm gì với bà già quen làm lụng, nên vừa bước chân vào nhà anh ngay lập tức chuyện giòn như cốm nổ. Không lúc nào chịu ngồi yên một chỗ, trong lúc xăng xái dọn chỗ này dẹp chỗ kia, vừa làm vừa kể, những chuyện nhà quê theo bước chân mẹ dìu dặt nửa xa nửa gần…
Mà, những câu chuyện ấy cũng đâu có giựt gân, kịch tính gì. Lơ vơ, quẩn quanh chỉ là cái góc bếp bị dột, cô bạn bên xóm vừa làm sui đầu tay, con lộ bê tông mới toanh phóng qua trước nhà. Sực nhớ gì thì nói đó, mẹ cứ láp giáp rời rạc, như thể chắp vá nhưng cái quê nhà mà anh đã rời bỏ hồi mười tám tuổi hiện lên sống động như bộ phim ai ải màu rơm rạ mục. Không phải cái tên nào anh cũng biết, nhưng anh cảm giác họ quen thuộc với mình, cái cô dâu phóng khỏi chiếc xuồng để quay lại với gã thợ rèn mà cổ yêu, hay bà thầy bói lấy búi tóc trong bụng con bệnh bằng máu lưỡi. Mẹ cũng không màng anh có quen người này người kia hay không, có gợi nhớ gì không. Quan trọng gì, mẹ sẽ ở lại nhà anh vài ba ngày rồi phải về coi vườn tược, thời gian mẹ con gần gụi cũng ngắn ngủn, nên phải tận dụng những thứ có thể nói được với nhau.
Bằng cách đó mẹ buộc anh vào quê nhà, dù sợi dây đó không thấy được bằng mắt thường, mong manh. Đôi khi anh cũng vuột khỏi nó, trôi tuột theo vài cuộc điện thoại thẳng căng của cuộc mưu sinh bù đầu. Mẹ, một chân rút lên ghế, tơ mơ ngó ra rào, thủng thẳng kéo anh về, “mùa này so đũa trổ bông…”. Ngay lập tức anh nghe ngọt trong cổ họng cái vị của mật nằm sâu trong cuống bông, cái hình ảnh nửa vầng trăng cong treo chi chít trên cành, và mùi thơm của nồi canh chua bông so đũa nấu với cá rô đồng, nêm rau tần dày lá
[…] Như thể mỗi chuyện là một cọng nan tre, mẹ tiện tay đan thành tấm liếp che nắng, gió cho anh đỡ rạc rài.
Nhưng đó là chuyện hồi trước, giờ chuyện quê nhập nhoạng trong cơn đảo điên của đời sống. Anh tự hỏi vì giọng chị Hai không giống mẹ, hay vì những câu chuyện khác xưa rồi. Chang chói. Bén nhọn. Chị Hai còn biết kể gì ngoài những độ nhậu nhóm lên từ sáng sớm. Ba mẹ con bên xóm tự vẫn chết bằng thuốc sâu. Gần nhà xảy ra mấy vụ đâm xe máy. Một thằng nhỏ trộm chó bị xóm xông vào đánh gãy xương vai. Một cuộc ẩu đả của mấy anh em con cô con dì, chỉ vì ranh đất xê xích có một tấc. Anh nghĩ đó không phải thứ mình chờ đợi, những gì xảy ra ở xứ sở miệt vườn xa xôi kia phải dịu dàng hơn thứ tin tức anh vẫn thường tiếp xúc trên trang báo hàng ngày. Anh nghĩ cái xóm mà mẹ anh nằm lại, nó phải đứng ngoài những cơn gió lốc của cái đời sống loạn lạc này. Như nó đã từng thờ ơ đi qua mấy bận binh lửa, mấy bận chính thể đất nước đổi thay, mấy bận thanh trừng. Mãi mãi trong hình dung, quê anh như cụm bông gòn vừa bong ra khỏi trái, bay bâng quơ ơ thờ đậu đâu cũng được.
Trong ngôi mộ đã bắt đầu xanh cỏ của mẹ, những câu chuyện nhà quê đã từng làm bóng mát cho anh cũng hóa đất. Đốm bông gòn hiền queo đã thốc bay, cuốn vào dòng loạn lạc. Anh biết không phải tại chị Hai kể chuyện miệt vườn không hay.
(Nguồn https://www.truyenngan.com.vn/truyen-ngan/truyen-ngan-song/35711-cho-nao-cung-nang.html)

Bài làm Phân tích văn bản Chỗ nào cũng nắng của Nguyễn Ngọc Tư
A. Yêu cầu
– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.
– Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Chỗ nào cũng nắng” của Nguyễn Ngọc Tư.
– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.
B. Hướng dẫn gợi ý
* Mở bài:
– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Ngọc Tư: cây bút gắn bó với miền đất Nam Bộ, giàu trăn trở về con người và quê hương.
– Giới thiệu đoạn trích Chỗ nào cũng nắng: câu chuyện xúc động về sự thay đổi trong cảm nhận của nhân vật “anh” đối với quê hương, gắn liền với hình ảnh người mẹ.
– Nêu luận điểm: Đoạn trích thể hiện tình yêu quê hương qua những câu chuyện giản dị, đồng thời bộc lộ nỗi đau mất mát, sự phai nhạt gắn kết khi mẹ qua đời.
Nguyễn Ngọc Tư là cây bút nổi bật của văn học đương đại Việt Nam, được yêu mến bởi giọng văn mộc mạc, sâu lắng và giàu cảm xúc nhân văn. Trong những trang viết của chị, miền đất Nam Bộ hiện lên vừa quen thuộc, vừa thấm đẫm nỗi niềm về con người và cuộc sống. Đoạn trích Chỗ nào cũng nắng là một minh chứng tiêu biểu, khi nhà văn tinh tế khắc họa sự chuyển biến trong cảm xúc của nhân vật “anh” trước quê hương, nơi chan chứa tình mẹ, tình đất, và cũng là cội nguồn của bao yêu thương, gắn bó
* Thân bài:
1. Cảm nhận về quê hương khi mẹ còn sống
– Quê hương hiện lên qua những câu chuyện bình dị, tưởng chừng vụn vặt: cái góc bếp bị dột, con đường bê tông mới, người hàng xóm làm sui, cô dâu bỏ xuồng, bà thầy bói…
– Những mẩu chuyện ấy không hấp dẫn theo lối “giật gân” nhưng lại sống động, ấm áp, mang hơi thở của cuộc sống đời thường.
– Chính giọng kể của mẹ đã trở thành sợi dây vô hình buộc “anh” với quê hương, xoa dịu mệt mỏi nơi thành thị, như tấm liếp che chở, bóng mát nâng đỡ tâm hồn.
2. Cảm nhận về quê hương khi mẹ mất
– Sau khi mẹ qua đời, quê hương hiện ra khác hẳn: chao đảo, đầy bạo lực và bất an qua những câu chuyện chị Hai kể – chuyện nhậu nhẹt, tự vẫn, tai nạn, ẩu đả…
– Quê hương không còn là nơi bình yên che chở mà trở nên xa lạ, khắc nghiệt, khiến anh hụt hẫng và đau xót.
– Sự thay đổi ấy không chỉ bởi giọng kể của chị Hai, mà còn vì bóng dáng, tình yêu và sự kết nối của mẹ đã mất đi.
3. Ý nghĩa và giá trị tư tưởng của đoạn trích
– Quê hương trong văn bản không chỉ là mảnh đất chôn nhau cắt rốn mà còn gắn với ký ức, tình thương, đặc biệt là tình mẫu tử.
– Khi người thân mất đi, sự gắn kết ấy cũng bị lung lay, khiến con người cảm thấy lạc lõng.
– Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm thông điệp nhân văn: hãy biết trân trọng những người thân yêu và giữ gìn ký ức về quê hương, bởi đó là điểm tựa tinh thần quý giá trong cuộc đời.
* Kết bài:
– Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: tái hiện một cách chân thực, xúc động sự thay đổi trong cảm nhận về quê hương của nhân vật “anh”, từ đó làm nổi bật vai trò của tình mẹ.
– Mở rộng: Văn bản khơi gợi suy ngẫm cho mỗi người, quê hương không chỉ là mảnh đất, mà còn là tình thương, là ký ức gắn bó với gia đình. Khi còn có thể, hãy trân trọng và giữ gìn sợi dây thiêng liêng ấy.
Có thể nói, tác phẩm Chỗ nào cũng nắng không chỉ là câu chuyện về tình mẹ con sâu nặng mà còn là bản hòa ca ấm áp về quê hương, nơi lưu giữ những ký ức thân thương và tình cảm thiêng liêng nhất của con người. Qua những trang viết dung dị mà thấm đẫm yêu thương, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã khơi dậy trong lòng người đọc niềm trân quý với cội nguồn. Bởi quê hương không ở đâu xa, mà chính là tình mẹ, là ký ức, là nơi ta luôn muốn trở về để tìm thấy sự bình yên và ấm áp trong tâm hồn
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
