Phân tích đoạn trích Một thoáng chèo quê tôi của Vũ Hữu Sự để làm rõ vẻ đẹp của nghệ thuật chèo và tình yêu quê hương tha thiết của tác giả

Bình chọn

Đề bài:  Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn trích Một thoáng chèo quê tôi của Vũ Hữu Sự để làm rõ vẻ đẹp của nghệ thuật chèo và tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.

MỘT THOÁNG CHÈO QUÊ TÔI

(Vũ Hữu Sự)

Khi tôi lớn lên, chèo sân đình đã vắng bóng. Các đoàn chèo từ Trung ương đến hàng xã đều diễn chèo trên sân khấu ba mặt (vốn là sản phẩm của kịch phương Tây) và những kịch bản chèo cổ đã được chỉnh lí, biên soạn lại khá công phu dưới ngòi bút của những nhà viết chèo tầm cỡ như Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Bùi Đức Hạnh,… nhưng vẫn còn lưu dấu trong những buổi đội chèo làng luyện tập,… Cơm tối xong, tiếng trống vừa nổi lên cùng với điệu “vỡ nước” náo nức, là chúng tôi ùa ra sân hợp tác. Già trẻ, gái trai đã vây kín thành vòng tròn quanh các diễn viên (toàn là người làng cả).

Hồi ấy chưa có điện, ánh sáng của những buổi tập ấy chủ yếu là ánh trăng hay đèn “hoa kì” (đèn “măng sông” chỉ hôm diễn chính mới được thắp). Ông chủ nhiệm hợp tác xã chĩnh chện trên chiếc ghế đẩu, chân kẹp trống, tay lăm lăm dùi. Ông ngồi cầm chầu, trực tiếp chấm… cộng điểm cho các diễn viên – xã viên của mình. Diễn viên lúc ấy có người mới tất tả chạy ra, mặt còn đỏ lựng vì đun mải cho xong nồi cám lợn. Diễn viên tập, còn “đạo diễn”? Ngoài ông đội trường vốn là một trùm hát ngày trước, còn là… toàn thể người xem. […]

Người hát chèo hay nhất ở quê tôi hồi ấy là chị Thuyên (bây giờ, dẫu đã teo tóp ở tuổi 55 do gánh gia đình quá nặng, chị hát vẫn rất nền(1). Chị chuyên đóng vai nữ lệch(2). Hôm nào đi tập chị cũng đi muộn nhất. Có lần ra đến sân kho, quần còn vo quá gối. […]

Chị Thuyên nghèo lắm. Năm ngoài hai mươi, chị đã ba con. Vợ chồng tất bật, lam lũ. Những lúc vất vả quá, chị hay thở dài, bảo tôi:

– Em này, ước gì mà cuộc đời nó cũng như là… chiếu chèo ấy nhỉ?

Tôi chỉ biết ngẩn ngơ. Vâng! Ước gì… Bao nhiêu là nhân tình thế thái. Bao nhiêu là số phận đã diễn ra trên những chiếu chèo quê tôi… Ở đó, người nghèo khổ được gặp Tiên, gặp Phật. Cô gái mò cua trở thành hoàng hậu, còn chàng trai nghèo dắt mẹ đi ăn mày thì đỗ trạng nguyên. Ở đó ân oán phân minh, nghĩa tình trọn vẹn… […]

Vùng tôi là quê hương của những “chiếng”(3) chèo Nam. Thời trước, mỗi tỉnh có một hay nhiều “chiếng” chèo riêng: “Chiếng” chèo Đông của Hải Dương, “chiếng” chèo Đoài của Sơn Tây, “chiếng” chèo Bắc của Bắc Ninh. Mỗi “chiếng” có sở trường riêng, có những “ngón nghề” riêng, người sành chèo chỉ cần nhìn qua lối diễn là có thể gọi ngay ra được tên “chiếng”. Diễn viên bình thường chỉ diễn được trong “chiếng” của mình. Những người nhập vào “chiếng” nào cũng diễn được, lại diễn hay, được gọi là “nghệ nhân Tứ “Chiếng”. Số nghệ nhân đó thật hiếm hoi. Ở những “chiếng” chèo Nam, cho đến giờ, người ta vẫn kể chuyện về cô đào Đào Sương Nguyệt. Cô nhập vào “chiếng” nào là “chiếng” đó khởi sắc hẳn lên. Đào Nguyệt nổi danh với những vai “nữ chính” Thị Kính, Thị Phương,… và còn nổi danh với cả vai… Trương Phi trong tuồng Bắc. […]

Nhưng rồi về sau, chẳng ai biết kết cục của cô đào tài danh ấy ra sao? Vốn là người mê chèo, từ ngày trở thành một nhà báo chuyên nghiệp, tôi đã cố công đi tìm tung tích cô, nhưng tôi đã hoài công… Tên của cô chỉ còn lưu lại trong kí ức của những nghệ nhân dân gian lớp trước…

Chèo, đó chính là đặc trưng cho tính cách tâm hồn của người quê tôi. Những làn điệu, những vai chèo bất chấp mọi biển thiên, thăng trầm của xã hội, vẫn cứ màu mỡ, cứ xanh tươi như đồng đất Thái Bình.

(Vũ Hữu Sự, Một thoáng chèo quê tôi, in trong tập phóng sự Muôn mặt đời thường (Nhiều tác giả), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001, tr. 109 – 116)

Phân tích đoạn trích Một thoáng chèo quê tôi của Vũ Hữu Sự để làm rõ vẻ đẹp của nghệ thuật chèo và tình yêu quê hương tha thiết của tác giả

Bài làm Phân tích đoạn trích Một thoáng chèo quê tôi của Vũ Hữu Sự để làm rõ vẻ đẹp của nghệ thuật chèo và tình yêu quê hương tha thiết của tác giả

A. Yêu cầu

– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

– Xác định đúng vấn đề nghị luận: làm rõ vẻ đẹp của nghệ thuật chèo và tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.

– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

B. Hướng dẫn gợi ý

I. MỞ BÀI

  • Giới thiệu tác giả: Vũ Hữu Sự là một trong những cây bút phóng sự – ký nổi tiếng, thường viết về đời sống nông thôn Bắc Bộ với giọng văn chân thật, gợi cảm.

  • Giới thiệu đoạn trích Một thoáng chèo quê tôi: Một bút ký giàu cảm xúc, tái hiện những kỉ niệm về chèo làng quê – loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc.

  • Khẳng định vấn đề nghị luận: Qua trang viết thấm đượm hoài niệm, tác giả làm nổi bật vẻ đẹp của nghệ thuật chèo truyền thốngtình yêu sâu nặng với quê hương, với văn hóa dân gian.

Trong kho tàng ký sự viết về văn hóa dân gian, “Một thoáng chèo quê tôi” của Vũ Hữu Sự là một tác phẩm đặc sắc. Bằng những hồi ức chân thực và cảm xúc tha thiết, tác giả đã dựng lại bức tranh nghệ thuật chèo gắn bó mật thiết với đời sống người dân quê, đồng thời bộc lộ tình yêu sâu nặng với quê hương và truyền thống.

II. THÂN BÀI

1. Vẻ đẹp của nghệ thuật chèo qua đoạn trích

a. Chèo gần gũi với đời sống làng quê

  • Cảnh đội chèo tập luyện sau bữa cơm tối, ánh trăng, đèn hoa kì…

→ Không gian mộc mạc, đậm chất nông thôn Bắc Bộ.

  • Người xem quây quần thành vòng tròn, mọi người tham gia góp ý, như “đạo diễn” chung của làng.

→ Chèo gắn bó mật thiết với cộng đồng, là hơi thở của nông thôn.

b. Chèo chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc

  • Trong chiếu chèo, người nghèo có thể “gặp Tiên gặp Phật”, cô gái mò cua thành hoàng hậu, chàng trai nghèo đỗ trạng nguyên.

→ Chèo khẳng định công lý, phẩm chất tốt đẹp, đề cao ước mơ và niềm tin của người dân quê.

  • Nơi “ân oán phân minh, nghĩa tình trọn vẹn”.

→ Thể hiện lý tưởng đạo đức nhân hậu, thuần khiết của văn hóa Việt.

c. Sự phong phú của nghệ thuật chèo truyền thống

  • Nhắc đến các “chiếng chèo”: Đông, Đoài, Bắc, Nam – mỗi nơi có sắc thái riêng.

  • Nghệ nhân tài hoa: cô đào Đào Sương Nguyệt – diễn được ở mọi “chiếng”, để lại danh tiếng lâu bền.

→ Cấu trúc nghệ thuật của chèo phong phú, đa dạng, đậm bản sắc vùng miền.

  • Sự tồn tại của “vai nữ lệch”, các “ngón nghề”, lối diễn cổ…

→ Thể hiện chiều sâu nghệ thuật, truyền thống lâu đời.

2. Tình yêu quê hương tha thiết của tác giả

a. Trân trọng những con người bình dị của quê hương

  • Tác giả miêu tả chị Thuyên nghèo, lam lũ, đi tập chèo còn vo quần quá gối nhưng vẫn hát hay, đằm thắm.

→ Con người quê hương hiện lên mộc mạc, chân chất, giàu tài năng và tình cảm.

  • Tác giả nhớ từng nghệ nhân, từng chi tiết nhỏ trong buổi tập chèo của làng.

→ Tình yêu dành cho con người và văn hóa quê hương rất sâu đậm.

b. Nỗi tiếc nuối khi truyền thống mai một

  • Tiếc cho chèo sân đình đã vắng bóng.

  • Xót xa vì không lần ra tung tích cô Đào Sương Nguyệt – người nghệ nhân tài danh.

→ Gợi nỗi nhớ, nỗi thương đối với nghệ thuật truyền thống đang dần lùi vào dĩ vãng.

c. Tự hào về nghệ thuật chèo – linh hồn quê hương

  • Khẳng định: “Chèo, đó chính là đặc trưng cho tính cách tâm hồn của người quê tôi”.

→ Chèo không chỉ là nghệ thuật mà còn là bản sắc, là cốt cách Thái Bình.

  • Niềm tự hào được bộc lộ qua giọng văn tha thiết, trìu mến, đầy trân trọng.

3. Nghệ thuật thể hiện của đoạn trích

a. Đặc trưng thể kí – chân thực nhưng giàu cảm xúc

  • Ghi lại những chi tiết đời thường của làng quê (ánh đèn, sân kho, người diễn…).

  • Đan xen cảm xúc chủ quan, hồi ức, hoài niệm.

b. Giọng văn trữ tình, mộc mạc

  • Giọng kể nhẹ nhàng, chan chứa thương nhớ.

  • Nhiều câu văn gợi nhớ, gợi thương, thấm đượm tình quê.

c. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi

  • Hình ảnh người xem, người diễn, tiếng trống, ánh trăng… tái hiện sống động không gian chèo làng quê.

  • Cách ví von dung dị, gần gũi, mang đậm phong vị dân gian.

III. KẾT BÀI

  • Khẳng định: Đoạn trích Một thoáng chèo quê tôi không chỉ giúp người đọc hiểu thêm về nghệ thuật chèo – di sản quý của dân tộc, mà còn thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương và niềm tự hào của tác giả đối với văn hóa truyền thống.

  • Liên hệ – mở rộng: Văn bản nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa dân gian – những tài sản tinh thần vô giá của dân tộc.

Tác phẩm “Một thoáng chèo quê tôi” không chỉ là một thiên ký sự về nghệ thuật dân gian, mà còn là bản tình ca thấm đượm tình yêu quê hương. Tác phẩm giúp ta hiểu rằng, văn hóa truyền thống chính là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc. Đọc đoạn trích, mỗi chúng ta càng thêm tự hào, đồng thời thấy rõ trách nhiệm giữ gìn, tiếp nối những giá trị quý báu ấy cho hôm nay và mai sau.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *