NLVH về ý kiến: Văn học lãng mạn không quan tâm đến thế giới như nó đang là mà quan tâm đến thế giới như nó có thể là và phải là

Bình chọn

Đề bài: Có ý kiến cho rằng:

“Văn học lãng mạn không quan tâm đến thế giới như nó đang là mà quan tâm đến thế giới như nó có thể là và phải là” (Arixtot)

Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Làm sang tỏ ý kiến.

NLVH về ý kiến: Văn học lãng mạn không quan tâm đến thế giới như nó đang là mà quan tâm đến thế giới như nó có thể là và phải là

Bài làm NLVH về ý kiến: Văn học lãng mạn không quan tâm đến thế giới như nó đang là mà quan tâm đến thế giới như nó có thể là và phải là

I. MỞ BÀI

  • Giới thiệu khái quát về văn học và chức năng phản ánh đời sống.

  • Dẫn vào đặc điểm riêng của văn học lãng mạn – đề cao cái tôi, cảm xúc và thế giới mơ ước.

  • Trích dẫn ý kiến Arixtot và nêu vấn đề cần nghị luận.

Văn học không chỉ phản ánh đời sống như nó vốn có mà còn gửi gắm những khát vọng, ước mơ của con người về một thế giới tốt đẹp hơn. Điều đó được thể hiện rõ trong văn học lãng mạn – nơi cái tôi cá nhân được giải phóng, trí tưởng tượng và cảm xúc được phát huy cao độ. Bởi vậy, Arixtot mới cho rằng: “Văn học lãng mạn không quan tâm đến thế giới như nó đang là mà quan tâm đến thế giới như nó có thể là và phải là.” Nhận định ấy gợi mở đặc trưng cốt lõi của văn học lãng mạn, cần được làm rõ qua lý luận và các tác phẩm tiêu biểu.

II. THÂN BÀI

1.Giải thích

– Văn học lãng mạn: Trào lưu văn học lớn xuất hiện ở Châu Âu cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Ở Việt Nam, văn học lãng mạn ra đời và phát triển trong giai đoạn 1930 – 1945. Văn học lãng mạn là tiếng nói của cái tôi cá nhân giàu cảm xúc, phát huy cao độ trí tưởng tượng, diễn tả những khát vọng, ước mơ của con người vượt lên trên thực tại khách quan.

– Thế giới như nó đang là: thế giới của thực tại khách quan đang xảy ra, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người.

– Thế giới có thể là và phải là: thế giới trong mơ ước, trong khát vọng, mong muốn chủ quan của tác giả.

=> Như vậy, ý kiến đề cập đến một đặc điểm của văn học lãng mạn là thoát li hiện thực khách quan, hoặc nếu có viết về hiện thực thì cũng nhằm hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn trong mơ ước, mong muốn hiện thực hóa thế giới mơ ước ấy theo ý muốn chủ quan.

2. Bàn luận

– Văn học lãng mạn là tiếng nói của cái tôi tiểu tư sản, cái tôi được giải phóng khỏi những ràng buộc của xã hội cũ, mong muốn được khẳng định mình giữa cuộc đời.

– Thực tế xã hội kim tiền không cho họ thực hiện được ước mơ nên họ tìm cách thoát li để xây dựng một thế giới mộng ảo như mình mong muốn.

– Văn học lãng mạn lánh xa những vấn đề nóng bỏng của thời đại là đấu tranh giai cấp và cuộc sống đói nghèo của nhân dân.

– Tuy nhiên, có nhiều nhà văn lãng mạn có khuynh hướng đi gần với hiện thực đời thường, song hiện thực đó cũng chưa phải là vấn đề cấp thiết nhất mà nhà văn muốn đề cập trong tác phẩm.

3. Chứng minh qua “Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù”

a. Hai đứa trẻ:

– Thế giới như nó đang là: một phố huyện nghèo xơ xác, im lìm, đầy bóng tối với những con người sống cầm chừng, lay lắt, những đứa trẻ nghèo đáng thương. Dù không thoát li hiện thực như các nhà văn lãng mạn đương thời nhưng hiện thực mà Thạch Lam phản ánh không nhức nhối, khổ đau, cần lên án riết róng như trên trang văn của các nhà văn hiện thực.

– Thế giới có thể là, phải là: Thế giới của hạnh phúc, sung túc, êm đềm trong quá khứ (qua hồi ức của Liên); thế giới đông đúc, ồn ào đầy ánh sáng, niềm vui (qua hình ảnh chuyến tàu đêm).

b. Chữ người tử tù:

–  Thế giới như nó đang là: thế giới của bất công, mọi giá trị bị đảo lộn; là nhà tù đầy bóng tối, độc ác, bẩn thỉu,…

– Thế giới có thể là, phải là: Thé giới của những bậc tài hoa, nghệ sĩ, yêu cái đẹp, trọng cái tài, quí cái thiện lương. Đấy là thế giới của cái đẹp, chiến thắng thế giới của cái xấu, cái ác, “chiến thắng thế giới như nó đang là”. Cảnh cho chữ diễn ra trong một thé giới đặc biệt xưa nay chưa từng có với ánh sáng của ngọn đuốc, mùi thơm của chậu mực, của những bậc tài hoa, nghệ sĩ trong gong cùm vẫn uy nghi, đĩnh đạc sáng tạo cái đẹp.

4. Đánh giá

Hai đứa trẻChữ người tử tù thực sự là những tác phẩm văn học lãng mạn, đã tạo ra được thế giới như nó có thể là, phải là – thế giới tốt đẹp trong mơ ước của con người, đặt niềm tin vào tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn cho con người.

– Hai nhà văn đã miêu tả thế giới ấy bằng tài năng nghệ thuật độc đáo, với những thủ pháp đặc trưng của văn học lãng mạn như tương phản, đối lập; nghệ thuật xây dựng tình huống, nhân vật; sử dụng ngôn ngữ, chi tiết;…

– Tuy nhiên việc miêu tả thế giới như nó có thể là và phải là cũng là hạn chế của văn học lãng mạn vì đã thoát li, quay lưng với những vấn đề nóng bỏng của xã hội.

III. KẾT BÀI

  • Khẳng định tính đúng đắn của nhận định: văn học lãng mạn chú trọng thế giới lí tưởng hơn hiện thực vốn có.

  • Nhấn mạnh giá trị nhân văn của xu hướng này: khơi dậy ước mơ, khát vọng sống đẹp.

  • Mở rộng: Dù thời đại đổi thay, khát vọng về một thế giới tốt đẹp hơn vẫn luôn là động lực nuôi dưỡng con người – điều mà văn học lãng mạn đã thể hiện sâu sắc.

Nhận định của Arixtot hoàn toàn xác đáng khi soi chiếu vào bản chất của văn học lãng mạn: hướng con người rời khỏi thực tại tù túng để tìm đến thế giới của cái đẹp, cái thiện và những khát vọng lí tưởng. Qua Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù, ta thấy rõ văn học lãng mạn đã xây dựng những miền sáng của hi vọng và vẻ đẹp thiên lương ngay giữa bóng tối của đời sống. Dẫu còn hạn chế khi đôi lúc xa rời hiện thực, văn học lãng mạn vẫn mang giá trị nhân văn sâu sắc: nuôi dưỡng niềm tin vào con người và gợi nhắc rằng mọi thực tại đều có thể đổi thay bằng ước mơ và khát vọng hướng thiện.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online