NLVH về ý kiến Nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người

Bình chọn

Đề bài:

 Bàn về chức năng của văn học nghệ thuật, Nguyên Ngọc cho rằng: Nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật và cũng không thành những ông thánh vô bổ vô duyên. Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người. Cái cốt lõi của nghệ thuật là tính nhân bản. (Báo Văn nghệ, số 44).

Anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

Dàn ý NLVH về ý kiến Nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người

I. Mở bài

  • Giới thiệu khái quát vai trò của nghệ thuật trong đời sống con người: không chỉ là cái đẹp mà còn là tiếng nói nhân văn sâu sắc.

  • Dẫn dắt và nêu vấn đề nghị luận: Nhận định của nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định thiên chức cao cả của nghệ thuật: khám phá, khơi gợi, nuôi dưỡng và gìn giữ “tính người” trong con người, điều làm nên giá trị đích thực và bền vững của nghệ thuật chân chính.

II. Thân bài

1. Giải thích nhận định

  • “Nghệ thuật”: bao gồm văn học, âm nhạc, hội họa, điện ảnh,… là kết tinh của cảm xúc, tư tưởng, khát vọng sáng tạo của con người.

  • “Sự vươn tới, hướng về, níu giữ mãi mãi tính người cho con người”:

→ Nghệ thuật có chức năng phản ánh vẻ đẹp con người, nâng đỡ con người vượt qua khổ đau, giữ gìn phẩm giá, nhân tính, lòng yêu thương và đạo lý sống.

→ Khẳng định vai trò nhân đạo hoá con người của nghệ thuật chân chính.

2. Bàn luận và chứng minh

a. Cơ sở lý luận của nhận định

  • Tính nhân văn là cốt lõi của nghệ thuật chân chính:

    • Nghệ thuật luôn hướng tới những giá trị chân – thiện – mỹ.

    • Là sản phẩm của con người, nghệ thuật giúp con người hiểu chính mình, hiểu người khác và trở nên tốt đẹp hơn.

  • Chức năng nhận thức và giáo dục:

    • Văn học nghệ thuật giúp con người nhìn lại hiện thực, từ đó thức tỉnh, cảm hoá và đổi thay.

    • Tác phẩm chân chính luôn chất chứa tiếng nói nhân bản: yêu thương, cảm thông, khát vọng sống và vươn lên.

  • Tính người được thể hiện trong tác phẩm văn học:

    • Tố cáo những thế lực phi nhân tính.

    • Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn con người: lòng hi sinh, đức hiếu thảo, tình đồng bào, lòng yêu nước,…

    • Thấu hiểu và đồng cảm với những kiếp người bé nhỏ, bất hạnh.

b. Dẫn chứng văn học minh họa

  • Truyện ngắn “Lão Hạc” – Nam Cao:

    • Lão Hạc nghèo khổ, đơn độc, nhưng vẫn giữ gìn phẩm hạnh cao quý, không muốn làm phiền con, không muốn lừa dối ai.

    • Qua bi kịch của Lão, tác phẩm cất lên tiếng nói xót thương con người, đề cao nhân cách giữa khổ đau.

  • Bài thơ “Đồng chí” – Chính Hữu:

    • Viết về người lính trong kháng chiến chống Pháp, sống kham khổ nhưng gắn bó keo sơn, tình đồng đội sâu sắc.

    • Vẻ đẹp “tính người” thể hiện ở tình cảm cách mạng, tình bạn chân thành, lòng yêu nước thiết tha.

  • So sánh:

    • Cả Nam Cao và Chính Hữu đều thể hiện rõ quan điểm nhân đạo, nhưng qua những cách khác nhau: một bên là nỗi đau cá nhân sâu lắng, một bên là tinh thần cộng đồng cao cả.

    • Nghệ thuật của họ khác biệt về thể loại và giọng điệu nhưng cùng hướng đến sự bảo vệ và tôn vinh con người.

3. Mở rộng và nâng cao vấn đề

  • Ý nghĩa của nhận định với người sáng tác:

    • Trở thành kim chỉ nam cho người nghệ sĩ chân chính: cần rung động trước đời sống, sống sâu để viết thật, viết hay.

    • Nghệ thuật không chỉ để giải trí, mà phải đánh thức, cảm hóa và nâng đỡ con người.

  • Ý nghĩa với người đọc:

    • Là tiêu chí để tiếp nhận và đánh giá tác phẩm.

    • Đọc nghệ thuật là để sống sâu hơn, giàu lòng nhân ái hơn.

III. Kết bài

  • Khẳng định lại nhận định của Nguyên Ngọc là sâu sắc và nhân văn, phản ánh đúng bản chất, giá trị và vai trò của nghệ thuật chân chính.

  • Liên hệ thực tiễn: Trong thế giới hiện đại đầy biến động, nghệ thuật càng cần giữ vai trò bảo vệ “tính người” – phẩm chất nhân đạo cao quý nhất của nhân loại.

NLVH về ý kiến Nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người

Bài văn mẫu NLVH về ý kiến Nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người

Trong dòng chảy bất tận của lịch sử văn chương nhân loại, người ta đã từng nói rằng: “Thơ ca, nếu không có người, đã mồ côi.” Văn chương sinh ra là để đồng hành với con người trong mọi buồn vui, thăng trầm và khát vọng sống. Nếu một ngày nghệ thuật biến mất, có lẽ đó không chỉ là sự mất mát của một hình thức giải trí, mà còn là sự hoang vắng tận cùng trong tâm hồn nhân loại. Bởi thế, nhà văn Nguyên Ngọc từng khẳng định một cách đầy sâu sắc: “Nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật và cũng không thành những ông thánh vô bổ vô duyên. Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người.” Tư tưởng này không chỉ là lời ngợi ca giá trị nhân đạo của nghệ thuật, mà còn là một định hướng nhân sinh sâu sắc về vai trò không thể thay thế của văn chương đối với đời sống tinh thần của con người.

Văn học nghệ thuật không ra đời để tô vẽ hiện thực, càng không phải là thứ trang trí xa hoa, mà là nhu cầu thiết yếu, là không gian tinh thần mà con người tìm đến để hiểu mình, để sống một cuộc sống đầy đủ hơn. Nghệ thuật níu giữ tính người tức là giữ lại những gì cao quý nhất, nhân văn nhất của con người trong một thế giới luôn biến động. Văn chương giữ cho ta sự nhạy cảm trước khổ đau, tình thương với đồng loại, khả năng trăn trở và phản tỉnh trước cái ác, cái xấu. Đó là sự níu giữ phần Người, phần cao đẹp nhất trong hai chữ “con người”. Nghệ thuật không tạo nên những thánh nhân toàn mỹ, càng không để con người sa xuống bản năng tầm thường. Nghệ thuật nâng con người lên để sống nhân ái, sống cao cả, sống có lý tưởng.

Ngay từ thời cổ đại, văn chương đã hiện diện như một người bạn tri âm trong hành trình sống của nhân loại. Những tác phẩm lớn đều là sự lắng sâu những nỗi niềm của con người trước cuộc đời. Nguyễn Trãi từng viết:

“Bui một tấm lòng ưu ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.”

Hay:

Một tấm lòng son người lửa luyện

Mười năm thanh chức ngọc hồ băng.

Đằng sau vẻ đẹp của ngôn từ là một tâm hồn trung hiếu, tận tụy, đau đáu vì dân vì nước. Thơ ông vừa hào sảng vừa trầm buồn, là tiếng lòng của một bậc hiền triết mà cũng là của một con người từng trải và đầy suy tư. Văn chương ấy là nơi Nguyễn Trãi gửi gắm cô đơn và khát vọng, đau đớn và yêu thương. Hơn 500 năm sau, tiếng thơ của ông vẫn vang vọng, thức tỉnh tâm hồn độc giả hôm nay.

Đỗ Phủ – nhà thơ lớn của văn học Trung Hoa, cũng từng mượn văn chương để trải nỗi tha hương, đau đáu tình nước, tình nhà;

Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ

Con thuyền buộc chặt mối tình nhà

Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước

Thành Bạch chày vang bóng ác tà.

(Đỗ Phủ)

Mỗi câu thơ từng lời từng chữ đều được dệt nên từ nỗi đau thương của thi nhân. Nhà thơ của những nỗi đời đã mượn văn chương để tỏ nỗi niềm tha hương. Lời thơ đắm sâu, trữ tình mà tha thiết. Năm trước thu về, cúc nở ta đã khóc. Năm nay thu về, ta lại khóc. Dòng lệ năm nay đã khác dòng lệ năm xưa. Giọt lệ xưa buồn thương thì giọt lệ nay còn buồn thương da diết hơn. Thời gian xa quê đã được tính bằng năm. Thêm một lần cúc nở là thêm một năm trời đằng đẵng tha hương. Cúc thì cứ thế, cứ vô tình nở rồi lại tàn, chỉ có lòng người quặn thắt nỗi đau thương. Văn chương không thay đổi được hoàn cảnh, nhưng có thể cứu rỗi và nâng đỡ tâm hồn con người vượt qua hoàn cảnh.

Tính người đó là hai từ mà Nguyên Ngọc dùng để chỉ những gì đẹp đẽ nhất của hồn người. Con người! Hai tiếng ấy thật cao cả. Tiếng ấy vang lên kiêu hãnh và hùng tráng xiết bao! (M.Gor-ki). Được là con người đã là một niềm kiêu hãnh nhưng nghệ thuật còn thúc đẩy ta vươn tới những giá trị cao cả hơn. Câu nói của Nguyên Ngọc đã khẳng định nghệ thuật tôn vinh vẻ đẹp của hồn người: sống đẹp – nghĩ đẹp – tâm hồn đẹp; đó là một triết lí mĩ học về con người. Nghệ thuật níu giữ tính người cho con người nhưng đồng thời cũng nâng đỡ bồi đắp hồn người. Chỉ có nghệ thuật với sức mạnh nâng đỡ tâm hồn con người mới có thể khiến cho Pu- skin viết nên những câu thơ đẹp đến vậy:

Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng

Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen

Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm

Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

Chức năng của văn học, nghệ thuật là thanh lọc hồn người, làm cho nó trong sáng hơn, sự biểu hiện ở nghệ thuật là tính nhân đạo, là lòng yêu thương con người. Nếu coi thứ nghệ thuật cao đẹp nhất là thứ nghệ thuật vì con người thì tình cảm cao thượng nhất là tình cảm yêu thương con người. Văn học, ấy là tiếng nói yêu thương, tri âm, đồng điệu. Đọc văn, con người biết sống yêu thương người hơn. Tự bao đời nay, tình cảm yêu thương đã trở thành một tình cảm lớn của loài người và những tác phẩm lớn vượt qua khỏi mọi giới hạn, mọi bờ cõi là những tác phẩm cất lên tiếng gọi yêu thương. Trong văn học Việt Nam, không thể không nhắc đến Nguyễn Du với Truyện Kiều, đỉnh cao của lòng nhân đạo. Mỗi dòng thơ là một giọt nước mắt. Cái tình, cái tâm của ông như ngấm vào từng chữ, từng câu:

“Đau đớn thay phận đàn bà 

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

Câu thơ hay không phải vì bút lực thần kì mà bởi cái tình của người viết trào dâng. Ấy là tiếng nói của yêu thương muôn đời. Nhà thơ Trường Trào (Trung Quốc) từng có câu thơ ca ngợi cái tình của con người: Một chữ TÌNH để duy trì thế giới – Một chữ TÀI để tô điểm càn khôn. Nguyễn Du và Trường Trào đã gặp nhau ở quan niệm về chữ TÂM, chữ TÌNH. Có cái TÂM lớn, cái TÌNH sâu mới là những tình cảm muôn đời để duy trì thế giới này, để nó mãi trong sáng, tốt đẹp. Nguyễn Du đã dùng tình yêu lớn của mình để bao bọc mọi kiếp chúng sinh trong bể nước mắt trầm luân. Ông mượn tiếng nói yêu thương của nàng Kiều để nói những nỗi thương người, thương đời của mình, ông bao bọc tất cả bởi một tình thương không đẳng cấp trong văn chiêu hồn. Trái tim vĩ đại ấy không chỉ trùm phủ nỗi đau của nàng Kiều mà còn trùm phủ nỗi đau của mọi kiếp tài hoa.

Lời khẳng định của Nguyên Ngọc: Nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật và cũng không thành những ông thánh vô bổ vô duyên. Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người. Cái cốt lõi của nghệ thuật là tính nhân bản đã khái quát những giá trị to lớn của nghệ thuật. Với người nghệ sĩ, nghệ thuật là sáng tạo, là được bộc lộ những tình cảm của mình và kiếm tìm sự tri âm, đồng điệu. Với độc giả, nghệ thuật là sự hướng về những giá trị cao đẹp, là sự tự nâng mình lên xứng với tầm của nhà văn để mà tri âm, mà đối thoại. Nghệ thuật đã bất tử hóa tâm hồn con người tới ngàn đời. Trước cái chết của nhà văn, nhà thơ, ta nghĩ tới sự bất tử của người nghệ sĩ. Nghệ thuật đã khiến cho những tâm hồn lớn giàu yêu thương mãi bất tử cùng sông núi, để họ sống mãi trong lòng người đọc.

Lép Tonxtôi từng nói: Nếu một ngày văn học biến mất, thế giới sẽ không còn mất mát gì. Nhưng những tâm hồn yêu văn chương vẫn tin rằng, nếu một ngày không còn nghệ thuật, con người sẽ sống trong một thế giới thiếu vắng yêu thương, trống rỗng cảm xúc và mù lòa trước cái đẹp. Tư tưởng của Nguyên Ngọc, vì thế, không chỉ là lời khẳng định giá trị của nghệ thuật, mà còn là một lời thức tỉnh cho mỗi người trong hành trình giữ gìn và nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng những giá trị nhân văn vĩnh cửu.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online