NLVH về ý kiến: Nghệ thuật như một dàn nhạc giao hưởng mà trong đó mỗi nhà văn chơi một nhạc cụ riêng, rung lên một âm thanh riêng để tạo thành bản nhạc

Bình chọn

Đề bài: Có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật như một dàn nhạc giao hưởng mà trong đó mỗi nhà văn chơi một nhạc cụ riêng, rung lên một âm thanh riêng để tạo thành bản nhạc”.

Lại có ý kiến cho rằng: “Mỗi tác phẩm mà nghệ sĩ tạo nên giống như một âm thanh riêng, khi đặt bên nhau sẽ thành bản nhạc in đậm dấu ấn riêng của nghệ sĩ”.

Anh / chị hiểu thế nào về những ý kiến trên? Bằng kiến thức văn học của mình, hãy làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra trong đó.

NLVH về ý kiến: Nghệ thuật như một dàn nhạc giao hưởng mà trong đó mỗi nhà văn chơi một nhạc cụ riêng, rung lên một âm thanh riêng để tạo thành bản nhạc

Bài làm NLVH về ý kiến: Nghệ thuật như một dàn nhạc giao hưởng mà trong đó mỗi nhà văn chơi một nhạc cụ riêng, rung lên một âm thanh riêng để tạo thành bản nhạc

A. Mở bài:

  • Giới thiệu vấn đề: nghệ thuật – phong cách – cá tính sáng tạo.

  • Dẫn hai ý kiến về “dàn nhạc giao hưởng” và “âm thanh riêng”.

  • Khẳng định đây là những ý kiến thể hiện đúng bản chất sáng tạo văn chương.

Văn học là thế giới của những tiếng nói cá nhân, nơi mỗi nhà văn góp vào dòng chảy chung của nghệ thuật một âm sắc độc đáo không thể trộn lẫn. Bởi vậy, đã có ý kiến cho rằng “Nghệ thuật như một dàn nhạc giao hưởng mà trong đó mỗi nhà văn chơi một nhạc cụ riêng, rung lên một âm thanh riêng để tạo thành bản nhạc”, và cũng có ý kiến khẳng định “Mỗi tác phẩm mà nghệ sĩ tạo nên giống như một âm thanh riêng, khi đặt bên nhau sẽ thành bản nhạc in đậm dấu ấn riêng của nghệ sĩ”. Những hình ảnh giàu sức gợi ấy không chỉ giúp ta nhận ra vai trò của cá tính sáng tạo trong nghệ thuật mà còn chỉ ra mối quan hệ giữa phong cách cá nhân và diện mạo của cả một nền văn học. Hiểu đúng hai ý kiến sẽ giúp ta soi sáng quy luật vận động của văn chương: thống nhất trong đa dạng, riêng biệt mà vẫn hài hòa.

B. Thân bài:

I. Giải thích ý kiến 1: “Nghệ thuật như một dàn nhạc giao hưởng mà trong đó mỗi nhà văn chơi một nhạc cụ riêng, rung lên một âm thanh riêng để tạo thành bản nhạc”

a. Cắt nghĩa:

Tác giả ý kiến đã sử dụng cách nói đầy hình ảnh để bộc lộ suy nghĩ về mối quan hệ giữa các nhà văn cùng thời, về sự góp mặt của các nhà văn để tạo nên nền nghệ thuật.

– Dàn nhạc giao hưởng: một tập thể nghệ sĩ mà mỗi người trong số đó có khả năng riêng, tiếng nói riêng song lại gắn bó, thống nhất với nhau bởi người chỉ huy dàn nhạc đó.

– Nhạc cụ: phương tiện chứa chở tiếng nói nghệ thuật của người nghệ sĩ, có khả năng tạo ra một loại âm thanh riêng, tiếng nói riêng biệt, độc đáo của mỗi nghệ sĩ.

– Bản nhạc: sự hòa âm của các âm thanh để tạo thành một giai điệu hoàn chỉnh, trọn vẹn, biểu đạt được một nội dung cảm xúc, một ý tưởng, một thông điệp tinh thần nào đó.

Một nền nghệ thuật là sự tập hợp của những cá nhân nghệ sĩ có tiếng nói riêng song cùng hướng tới một mối quan tâm chung để tạo thành âm hưởng chung của thời đại.

b. Lí giải

– Cái riêng của mỗi nghệ sĩ:

+ Là dấu ấn, phong cách cá nhân của người nghệ sĩ ấy, thẻ hiện qua những sáng tạo nghệ thuật mà nghệ sĩ ấy tạo nên bằng tài năng, tâm huyết của chính mình. Cái riêng ấy có thể là mối quan tâm, những phát hiện độc đáo: Nam Cao quan tâm tới đời sống và khát vọng của những trí thức tiểu tư sản nghèo, những con người mang khát vọng, lý tưởng sống thanh cao đẹp đẽ nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất. Nguyễn Tuân quan tâm đến cốt cách và nhu cầu tinh thần của lớp trí thức “một thời vang bóng” tài hoa tài tử, ngông nghênh kiêu bạc… Cái riêng ấy có thể là ngôn ngữ, giọng điệu: Xuân Diệu táo bạo, mới lạ khi nhập làng Thơ Mới bằng “y phục tối tân” – lối diễn đạt rất Tây, cách dùng từ rất mới mẻ, độc đáo (dẫn chứng), giọng thơ sôi nổi, cuồng nhiệt và vồ vập (dẫn chứng); Huy Cận mang vào Thơ Mới cả một “mùa cổ điển” khi khơi dậy “cái hồn buồn Đông Á, cái mạch sầu ngàn năm trong cõi đất này” bằng giọng thơ ảo não, bằng ngôn ngữ hàm súc, trang trọng với rất nhiều từ Hán Việt, cách vận dụng ý và lời thơ xưa (dẫn chứng). Cái riêng ấy có thể là thế giới nghệ thuật được tạo dựng trong tác phẩm: hình ảnh làng quê trong văn Thạch Lam dù nghèo khó, buồn tẻ vẫn đầy thi vị chứ không ngột ngạt đến rùng rợn như trong văn Nam Cao.

+ Được tạo nên bằng tài năng, bằng công phu lao động nghệ thuật, bằng tích lũy vốn sống, bằng ý thức đào sâu, tìm tòi nên sẽ là những đóng góp của nhà văn để làm phong phú thêm cho nền văn học.

– Nhà văn trong mối liên hệ rộng lớn với đời sống văn học:

+ Một nền văn học nghệ thuật vận động, phát triển tự nhiên, đúng quy luật để luôn là sự dung hòa của “những tiếng nói khác” nhằm tạo nên sự thống nhất trong đa dạng, phong phú của những tiếng nói riêng.

+ Mỗi nhà văn sống trong bầu không khí của thời đại mình, hấp thụ nền văn hóa, tiếp nhận những tác động từ đời sống chính trị – xã hội tất yếu sẽ có những gặp gỡ: thế kỉ 18 đầy biến động đã tác động sâu sắc đến cuộc sống, số phận con người – Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều… rất khác nhau ở sự lựa chọn chất liệu, thể loại, ở giọng điệu, bản sắc riêng song lại gặp nhau ở mối quan tâm đến số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến để tạo thành một “thời kì Phục Hưng” trong văn học giai đoạn này; đầu thế kỉ 20, sự tác động của văn minh phương Tây đã tạo thành luồng gió mới thổi tung những khuôn phép, quy phạm để các nhà Thơ Mới tự dó thể hiện phong cách, cá tính riêng “Chưa bao giờ, ở Việt Nam xuất hiện… như Xuân Diệu” (Hoài Thanh). Những cá tính riêng ấy góp mặt làm thành trào lưu chung của thơ ca lãng mạn, gặp nhau ở khát vọng được thành thực và nhu cầu bộc lộ cái tôi cá nhân.

+ Sự gặp gỡ, thống nhất của các phong cách, cá tính sáng tạo sẽ góp phần tạo nên gương mặt chung của từng giai đoạn, từng thời kì văn học – đó chính là phong cách thời đại.

II. Giải thích ý kiến 2: “Mỗi tác phẩm mà nghệ sĩ tạo nên giống như một âm thanh riêng, khi đặt bên nhau sẽ thành bản nhạc in đậm dấu ấn riêng của nghệ sĩ”

a. Cắt nghĩa:

Tác giả ý kiến đã chú ý tới mối liên hệ nội tại giữa các sáng tác của cùng một nhà văn để tạo thành phong cách cá nhân của chính nhà văn đó.

– Tác phẩm – đứa con tinh thần của người nghệ sĩ – kết tinh trong nó ý tưởng sáng tạo, thông điệp tinh thần, tiếng nói, giọng điệu riêng của nghệ sĩ.

– Mỗi tác phẩm như một âm thanh, toàn bộ quá trình sáng tác là một bản nhạc: sự thống nhất trong tính đa dạng của phong cách nghệ thuật ở mỗi cá nhân người viết.

Sáng tác của nhà văn phải có sự vận động, đổi mới, sáng tạo song luôn thống nhất ở những giá trị cốt lõi và mang bản sắc rõ nét để tạo thành phong cách nghệ thuật.

b. Lí giải:

– Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, mà phải là những sáng tạo đạt tới tính thẩm mĩ và giá trị nhân văn mới được công chúng đón nhận, mới thật sự có ích, có ý nghĩa. Nếu chính bản thân nghệ sĩ không “đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”, tất yếu người nghệ sĩ ấy sẽ phải chấp nhận quy luật đào thải khắc nghiệt của nghệ thuật.

– Một nhà văn có bản lĩnh nghệ thuật, có tư tưởng sâu sắc, có tài năng lớn sẽ tạo cho mình một lối đi riêng. Lối đi riêng, con đường riêng đó là cái ổn định trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn, tạo thành cái mạch ngầm xuyên suốt quá trình sáng tác: Nguyễn Tuân với niềm say mê cái đẹp, Nam Cao trăn trở, day dứt về tính người, về ý nghĩa cuộc đời với cuộc chiến nhân cách trong mỗi con người, Xuân Diệu tha thiết với tình yêu cuộc sống.

– Một nhà văn có tự trọng, có trách nhiệm nghệ thuật sẽ không chấp nhận việc lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Nhà văn có thể kế thừa những di sản văn học của dân tộc, của nhân loại, song những di sản ấy phải được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo để tạo nên, ghi dấu cá tính sáng tạo của nghệ sĩ. Cùng kế thừa si sản văn chương cổ và thơ ca dân gian, song Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hồ Xuân Hương mỗi người một cách. Cùng nói về đề tài người kĩ nữ song nàng Kiều của Nguyễn Du, người kĩ nữ trong thơ Xuân Diệu, cô gái sông Hương trong thơ Tố Hữu đã mang gương mặt riêng, tâm sự riêng, quan niệm, cách nhìn riêng của cá nhân nghệ sĩ. Ngay cả với chính bản thân mình, một nhà văn có phong cách cũng không chấp nhận lặp lại mình.

III. Bàn luận, đánh giá:

– Phong cách, cá tính sáng tạo là biểu hiện của tài năng, là cơ sở tạo nên tầm vóc và diện mạo của cá nhân nghệ sĩ. Nó là kết quả của quá trình phấn đấu lâu dài, của những nỗ lực không ngừng trong tìm tòi, sáng tạo.

– Phong cách vừa được tạo thành từ những mối liên hệ nội tại để tạo thành bản sắc của một cá nhân, vừa là sự góp mặt vào nền văn học để tạo thành âm hưởng, không khí thời đại.

– Tự vận động để hoàn thiện PCNT và góp mặt trong nền văn học là trách nhiệm của người nghệ sĩ. Tìm hiểu nét riêng phong cách nghệ sĩ và mối liên hệ giữa phong cách cá nhân nghệ sĩ với thời đại sẽ giúp người đọc nhận rõ hơn gương mặt riêng và vai trò của mỗi nhà văn trong nền văn học.

C. Kết bài:

  • Khẳng định lại giá trị của hai ý kiến.

  • Mở rộng: sáng tạo nghệ thuật là hành trình tìm kiếm tiếng nói riêng để hòa vào bản hòa tấu lớn của thời đại.

Hai ý kiến trên đã khắc họa đầy đủ quy luật tồn tại và phát triển của văn học: nghệ thuật chỉ thực sự có sức sống khi mỗi nhà văn tìm thấy tiếng nói riêng, và mỗi tác phẩm trở thành một nốt nhạc độc đáo góp vào bản giao hưởng tinh thần của thời đại. Ý thức về cá tính sáng tạo không chỉ là minh chứng cho tài năng của người nghệ sĩ mà còn là trách nhiệm đối với văn học dân tộc – bởi chính những tiếng nói riêng ấy làm nên sự phong phú, sâu sắc và bền vững của văn chương. Nhận thức được điều này, người đọc sẽ biết trân trọng hơn những phong cách độc đáo, những khám phá mới mẻ và những giá trị nhân văn mà mỗi nhà văn gửi gắm trong hành trình sáng tạo của mình.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *