NLVH về ý kiến: Cái đẹp của thơ không nên chỉ làm nên ánh sáng kỳ bí của ma trơi hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa, của đèn màu cầu kỳ nhuộm hàng trăm sắc

Bình chọn

Đề bài: Nhà thơ nổi tiếng người Đức Bertold Brecht cho rằng: Cái đẹp của thơ không nên chỉ làm nên ánh sáng kỳ bí của ma trơi hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa, của đèn màu cầu kỳ nhuộm hàng trăm sắc. Ðẹp nhất là khi anh tạo nên được ánh sáng ban ngày, thứ ánh sáng tưởng như không màu, không sắc nhưng đó chính là ánh sáng mạnh mẽ và hữu ích nhất cho con người. 

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ.

NLVH về ý kiến: Cái đẹp của thơ không nên chỉ làm nên ánh sáng kỳ bí của ma trơi hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa, của đèn màu cầu kỳ nhuộm hàng trăm sắc

Bài làm NLVH về ý kiến: Cái đẹp của thơ không nên chỉ làm nên ánh sáng kỳ bí của ma trơi hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa, của đèn màu cầu kỳ nhuộm hàng trăm sắc

A. Mở bài

  • Giới thiệu vấn đề: Thơ ca luôn hướng đến việc phản ánh và nâng đỡ đời sống tinh thần con người.

  • Dẫn ý kiến của Bertold Brecht và khẳng định đây là một quan niệm sâu sắc về cái đẹp chân thực trong thơ.

  • Nêu định hướng giải quyết: Giải thích – bình luận – chứng minh qua một số tác phẩm.

Trong hành trình phát triển của thơ ca, cái đẹp luôn là vấn đề được người sáng tác và người thưởng thức quan tâm sâu sắc. Không chỉ dừng lại ở vẻ lung linh, huyền ảo hay thứ ánh sáng rực rỡ dễ gây ấn tượng ban đầu, thơ ca chân chính phải tìm đến giá trị bền vững, giản dị mà sâu xa của đời sống. Bởi vậy, nhà viết kịch nổi tiếng người Đức Bertolt Brecht mới khẳng định: “Cái đẹp của thơ không nên chỉ làm nên ánh sáng kỳ bí của ma trơi hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa… đẹp nhất là khi anh tạo nên được ánh sáng ban ngày.” Ý kiến ấy đã gợi mở một quan niệm sâu sắc về vẻ đẹp chân thật và giá trị đích thực của thơ ca – ánh sáng bình dị nhưng hữu ích, soi sáng tâm hồn và đời sống con người.

B. Thân bài

1. Giải thích

* Cắt nghĩa ý kiến:

– Cái đẹp của thơ không nên chỉ làm nên ánh sáng kỳ bí của ma trơi hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa, của đèn màu cầu kỳ nhuộm hàng trăm sắc: giá trị của thơ ca không chỉ tạo ra những nét đẹp “kì bí”, không chỉ là sự trau chuốt ngôn từ hay tạo ra vẻ đẹp mới lạ về hình thức.

– Ðẹp nhất là khi anh tạo nên được ánh sáng ban ngày, thứ ánh sáng tưởng như không màu, không sắc: giá trị lớn nhất của tác phẩm thơ ca chính là cái đẹp chân thực, mộc mạc, gần gũi với đời thường. Là ánh sáng mạnh mẽ và hữu ích nhất cho con người: cái đẹp giản dị của thơ ca sẽ soi sáng tâm hồn con người, mang lại ý nghĩa thiết thực cho đời sống.

=> Nhà thơ nổi tiếng người Đức Bertold Brecht đã đưa ra một trong những tiêu chí quan trọng đối với tác phẩm thơ hay: chân thực, dung dị cả về nội dung lẫn hình thức. Đó chính là một trong những điều quan trọng làm nên giá trị, sức mạnh của thơ ca.

* Lí giải ý kiến:

Ý kiến của Bertold Brecht đúng đắn và xác đáng vì:

– Xuất phát từ quy luật sáng tạo của văn chương nói chung và thơ ca nói riêng: Văn học bắt nguồn từ hiện thực đời sống, từ những vui buồn, đau khổ, hạnh phúc của cuộc đời, của số phận cá nhân con người. Vì thế, cái hay của một tác phẩm văn học, một bài thơ được tạo nên từ chính cái đẹp chân thực, mộc mạc, dung dị, gần gũi với đời thường, thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Thơ không như thứ rượu quỳnh tương, nấu lâu, cất kĩ, rót ra chén ngọc rồng mà như nước suối thiên nhiên chảy ra trong mát nơi khe núi. (Phạm Thế Ngũ).

– Xuất phát từ đặc trưng của thơ trữ tình: Sự chân thực, giản dị của cảm xúc và ngôn ngữ là một đặc tính cơ bản của thơ: cảm xúc nảy nở từ lòng thi nhân một cách chân thành, thắm thiết; câu chữ không cần trau chuốt hay “thần bí hóa”; ngôn ngữ dễ hiểu, cô đúc, trong sáng.

– Xuất phát từ chức năng của văn học, trong đó có thơ ca: Thơ khởi nguyên là sự lên tiếng của trái tim, là sự rung động tâm hồn của nhà thơ nhưng trở thành tiếng lòng chung của muôn người, tiếng gọi đàn, thành tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình với người đọc, thơ là một ngọn lửa nhen lên trong lòng người, một ngọn lửa đốt cháy, sưởi ấm và soi sáng, là ánh sáng mạnh mẽ hướng con người đến vẻ đẹp của chân, thiện, mĩ.

2. Chứng minh

a. Bài thơ Thương vợ của Tú Xương

* Nội dung:

– Sự chân thực, dung dị thể hiện ở chất trữ tình, chất tự trào hóm hỉnh và những cung bậc của tình yêu thương dành cho người vợ của nhà thơ. Qua cái nhìn vừa trân trọng vừa xót xa, chân dung bà Tú hiện lên hoàn chỉnh. Bên cạnh hình ảnh bà Tú với những nỗi vất vả, gian truân trong cuộc sống là một bà Tú với những đức tính cao đẹp: đảm đang, tháo vát, chịu thương, chịu khó, hết lòng vì chồng con, giàu đức hi sinh thầm lặng. Hình ảnh bà Tú trong thơ Tú Xương mang vẻ đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam.

– Đằng sau lời tự trào là cả một tấm lòng yêu thương, quý trọng, tri ân vợ của Tú Xương. Qua những lời tự trào, tự trách, thậm chí tự xỉ vả bản thân, ta thấy được tâm sự và nhân cách của Tú Xương: một nhà nho đầy tự trọng trong sáng, vị tha khi ông từ bỏ vẻ cao đạo của thói thường để thấu hiểu cuộc sống đời thường và sẻ chia, cảm thông với vợ. Đó là một người đàn ông có tâm, có ý thức, trách nhiệm.

– Từ hoàn cảnh riêng, Tú Xương lên án thói đời bạc bẽo nói chung. Đây chính là ý nghĩa xã hội chân thực của bài thơ.

* Nghệ thuật:

– Vẻ đẹp giản dị được biểu hiện ở màu sắc dân gian từ đề tài cho đến bút pháp. Sự kết hợp giữa giọng điệu trữ tình và giọng điệu trào phúng thâm thúy một cách tự nhiên đã thể hiện rõ phong cách thơ Tú Xương: cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc

– Sử dụng tiếng Việt giản dị, tự nhiên, giàu sức biểu cảm: Cả tám câu thơ không có từ nào cầu kì, khó hiểu. Tất cả đều gần gũi, quen thuộc như lời nói trong cuộc sống thường ngày. Sử dụng thành ngữ dân gian, cách nói khẩu ngữ: tiếng chửi được sử dụng rất tự nhiên mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc.

– Tiếp thu một cách có sáng tạo hình ảnh trong thơ ca dân gian (hình ảnh con cò, thân cò) để xây dựng hình tượng người phụ nữ vừa mang vẻ đẹp truyền thống lại vừa có những nét riêng độc đáo.

* Thương vợ của Tú Xương là bài thơ soi sáng tâm hồn con người, mang lại ý nghĩa thiết thực cho đời sống. Bài thơ giúp người đọc thấy được vẻ đẹp đáng trân trọng của bà Tú nói riêng và vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam nói chung, đồng thời, thấy được vẻ đẹp nhân cách của nhà nho chân chính – Tú Xương. Bên cạnh đó, bài thơ có tác dụng bồi đắp những tình cảm tốt đẹp cho con người: biết thấu hiểu, tri ân trong cuộc sống.

b. Bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

* Nội dung:

–  Sự dung dị thể hiện ở tiếng nói tình yêu đơn phương chân thực, mộc mạc mà không kém phần mãnh liệt của nhân vật trữ tình. Điều này được thể hiện qua việc nhà thơ dựng lên khung cảnh làng quê Việt nam với những hình ảnh gần gũi, thân quen như cây đa, bến đò, mái đình, vườn trầu, hàng cau…

– Trên nền bức tranh khung cảnh ấy là cả một dòng tâm trạng tương tư với nhiều cung bậc cảm xúc đan xen và hơn tất cả là niềm khát khao được người mình yêu đáp lại, thấu hiểu để có được tình yêu trọn vẹn, khát khao chung tình, hướng đến hôn nhân.

– Tương tư là một bài thơ hay viết về tình yêu – một thứ tình yêu trong sáng, đơn phương và rất mãnh liệt. Hồn quê Việt thấm đượm trong từng dòng thơ, thể hiện tình cảm chân thành của nhà thơ đối với những nét đẹp văn hóa dân gian.

* Nghệ thuật: Mặc dù có những nét độc đáo, mới mẻ của Thơ mới, nhưng bao trùm cả bài thơ là sự dung dị được biểu hiện qua thể thơ lục bát mang đậm phong vị ca dao; tâm trạng của nhân vật trữ tình được phô diễn một cách chân thành, mộc mạc, da diết qua cách nói truyền thống gần gũi với dân gian; nghệ thuật tạo hình ảnh độc đáo; chất liệu ngôn từ chân quê đậm chất dân gian; nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.

* Với thứ ánh sáng tưởng như không màu, không sắc, sự xuất hiện của Tương Tư giữa phong trào Thơ mới vốn đầy ắp sự cách tân, đổi mới đã thực sự làm lay động tâm hồn người đọc, giúp ta hiểu được hồn thơ của Nguyễn Bính (tìm về chân quê như một chốn bình yên trong tâm hồn). Bài thơ cho ta cảm nhận vẻ đẹp của những cung bậc cảm xúc trong tình yêu đơn phương, khơi gợi tình yêu quê hương đất nước.

3. Đánh giá, nâng cao vấn đề

– Ý kiến của Bertold Brecht cho ta hiểu thêm về giá trị và cái đẹp của thơ ca đích thực. Bài thơ Thương vợ của Tú Xương và Tương tư của Nguyễn Bính chứa đựng vẻ đẹp giản dị và có cảm xúc chân thành, đó là yếu tố tạo nên giá trị độc đáo cho hai thi phẩm. Hai bài thơ là những minh chứng tiêu biểu cho ý kiến của Bertold Brecht.

– Nhà thơ nói riêng, người nghệ sĩ nói chung muốn có chỗ đứng, muốn thể hiện và khẳng định được mình phải sáng tác những tác phẩm có giá trị, tạo nên được ánh sáng ban ngày, thứ ánh sáng tưởng như không màu, không sắc nhưng đó chính là ánh sáng mạnh mẽ và hữu ích nhất cho con người. Người đọc phải cảm nhận được vẻ đẹp chân thực, mộc mạc, giản dị của tác phẩm văn chương mới thấy hết được giá trị đích thực của một tác phẩm văn học chân chính.

C. Kết bài

  • Khẳng định lại tính đúng đắn của ý kiến về cái đẹp chân thực trong thơ.

  • Nhìn lại giá trị của những bài thơ như Thương vợTương tư: đều tỏa sáng bằng vẻ đẹp tự nhiên, giản dị mà giàu sức sống.

  • Liên hệ: Thơ ca hôm nay vẫn cần hướng đến vẻ đẹp mộc mạc, nhân văn để chạm tới trái tim người đọc.

Qua ý kiến của Bertolt Brecht, chúng ta có thể thấy rằng: cái đẹp giản dị, chân thực luôn là linh hồn của thi ca. Chính thứ “ánh sáng ban ngày” ấy giúp thơ không chỉ chạm tới cảm xúc mà còn trở thành điểm tựa tinh thần, góp phần bồi đắp nhân cách và tâm hồn con người. Trong bất cứ thời đại nào, khi người nghệ sĩ hướng ngòi bút của mình về sự chân thành của cảm xúc và vẻ đẹp mộc mạc của đời sống, khi thơ trở thành tiếng nói tự nhiên của trái tim, đó cũng là lúc thơ ca tìm được sức sống lâu bền nhất, sâu đậm nhất trong lòng người đọc.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *