Phân tích xung đột kịch trong vở kịch Kim Tiền và nêu ý nghĩa của xung đột

Bình chọn

Đề bài:  Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích xung đột kịch trong tác phẩm và nêu ý nghĩa của xung đột ấy đối với tư tưởng, thông điệp mà vở kịch Kim Tiền gửi gắm.

KIM TIỀN (Trích)

(Vi Huyền Đắc)

Tóm tắt vở kịch: Trần Thiết Chung vốn là một người có tài, quyết chí sống thanh bạch bằng nghề văn, coi khinh mọi sự phú quý ở đời. Cự Lợi – một chủ thầu – là bạn thân thiết với Trần Thiết Chung, đã năm lần bảy lượt đến nhà và khuyên Trần Thiết Chung nên dùng tài năng của mình đế kiếm tiền, nhằm lo cho vợ con đỡ khổ. Trước lời khuyên của bạn cũng như những lời nói gây tự ái của vợ, Trần Thiết Chung đành cay đắng thay đổi lối sống. Ông lao vào kiếm tiền bất chấp mọi thủ đoạn và nhanh chóng trở thành một nhà triệu phú. Tuy nhiên, từ khi trở nên giàu có, ông cũng thay đổi tính nết. Vì tiền, Trần Thiết Chung sẵn sàng hắt hủi vợ con, xua đuổi bạn bè cũ, đối xử tệ bạc với người làm thuê. Công nhân mỏ than vì bị đối xử tệ bạc, đã quyết định đình công, kéo đến phá nhà Trần Thiết Chung. Kết cục, Trần Thiết Chung bị công nhân dùng súng bắn chết.

Đoạn trích duới đây là màn đối thoại giữa Cự Lợi và Trần Thiết Chung, khi Trần Thiết Chung còn sống trong cảnh nghèo khó, thanh bạch.

ÔNG CỰ LỢI: – Lúc nào tôi cũng chỉ thấy bác sống ở trong cõi mơ mộng. Ở đời này, không thể thế được đâu, bác ạ. Bác nghe tôi, chớ có mơ hồ mãi như vậy. Bao giờ tôi cũng thấy bác túng bấn … Bác ơi! Bác phải nhớ cho rằng anh em mình sống ở nhị thập thế kỉ, không thể như ông Nhan Hồi(*) ăn cơm nguội, uống nước lã, gối đầu khuyu tay được…

ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG: – Sung sướng thay những người không cần thiết gì hết!

ÔNG CỰ LỢI: – Tôi xin cãi câu ấy: Sung sướng thay những người muốn gì được nấy! Bác cứ cố chấp quá thành ra ương, gàn. Bác giận tôi xin chịu, tôi cứ nói. Không những tôi mà mọi người trên mặt đất này ai cũng phải nhận rằng tiền là huyết mạch. Không có tiền không thể sống được. Mà bác ạ, tiền vị tất đã là xấu xa, bỉ ổi? Tiền mà biết dùng là một cái lợi khí, có thể làm được chán vạn việc từ thiện, danh nghĩa, cao thượng.

ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG: – Vâng, tôi biết thế lắm chứ, nhưng như ý tôi, ở cái đất nước này, nếu muốn cho có tiền, muốn làm giàu, trừ phi bóc lột kẻ nghèo khó, hút máu hút mủ kẻ túng thiếu, không còn có cách gì nữa.

ÔNG CỰ LỢI: – Giời ơi! Bác cố chấp đến thế thì tôi cũng không còn nói thế nào được nữa. Nhưng này, bác này, còn cái thuyết này, bác bảo sao: người ta sinh ra ở đời, đội trời đạp đất, ai cũng phải có cái chí phấn đấu. Trước hết phấn đấu đế sống đã này, sau phấn đấu để có một cái địa vị hơn người. Trong sự cạnh tranh, tiền là một sức mạnh vô cùng. Bác nghĩ kĩ mà xem, bao nhiêu tài năng của bác sẽ vì sự túng quẫn mà tiêu ma hết. Bác nghe tôi, đổi chí hướng đi …

ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG: – Tôi nghe bác nói từ nay đến giờ thì hình như hôm nay bác đến để cảm hóa tôi có phải không ạ?

ÔNG CỰ LỢI: – Không những một hôm nay mà lần nào tôi gặp bác, tôi cũng đều rắp tâm như thế cả, ấy cũng chỉ vì tôi tiếc cái tài của bác. Nếu bác không câu nệ, cố chấp thì ngày nay, công danh, sự nghiệp của bác cũng chẳng kém gì ai rồi. Tôi nói thật, bao nhiêu công việc bác trù tính, chỉ vì tiền mà thất bại. Bao nhiêu điều thất vọng của bác chỉ vì tiền mà ra cả. Thế mà bác cứ khinh rẻ tiền, không chịu kiếm tiền. Bác nghe tôi, không có tiền việc gì cũng hỏng hết.

ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG: – Thế nghĩa là mục đích ở cái đời này là kiếm tiền, có phải không thưa bác?

ÔNG CỰ LỢI: – Vâng, chính thế. Phải có tiền trước đã rồi muốn làm gì mới có thể

làm được. Tôi biết, bác coi tiền là phân, là bẩn, là rác, nhưng bác ơi, phân, bẩn, rác là những vật ô uế bấn thỉu thật đấy, nhưng phân, bẩn, rác cũng lại là những vật liệu rất quý. Bác chớ có khư khư đứng về một phương diện mà nhầm to. Không nhờ phân, nhờ bẩn, nhờ rác thì làm gì có những bông lúa nặng trĩu, những tàu rau xanh ngát, những bông hoa ngào ngạt.

ÔNG TRÂN THIẾT CHUNG: – Vâng, vâng, bác ví đúng lắm, tôi xin bái phục cái tài biện bạch của bác. Ai dám bảo bác không phải là một nhà thi sĩ của kim tiền. Vâng, có thể dùng phân bẩn để bón những bãi đất hoang, những đồng cỏ xanh để làm thành vườn, thành ruộng phì nhiêu được. Có thể đem tiền mà vãi lên những hoang đảo để làm ra những tỉnh thành nguy nga, rực rỡ được. Tôi biết lắm chứ. Nhưng đối với tôi, phân bẩn tuy dùng được việc đấy, chỉ hiềm rằng kiếm ra nó, thu nhập được nó thì nhơ lắm, nhớp lắm. Sao cho tránh khỏi không dấn thân vào chỗ hôi tanh, u ám.

ÔNG CỰ LỢI: (Hơi phật ý vì thấy bạn nói tràn không nể mặt mình) – Tôi xin lỗi bác, bác nói thế khí quá. (Cười gằn) Có lẽ vì bác đã gặp nhiều việc bất đắc chí thành ra chua chát.

ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG: – Không, không, tôi chả cay đắng, chua chát gì hết. Ý tưởng của tôi thế nào, tôi nói thế. Bao giờ cũng vậy, hễ mình càng tham muốn nhiều thì cái gánh hệ lụy càng nặng. (…) Tôi nhất quyết tránh xa cái vòng cầu danh, trục lợi.

ÔNG CỰ LỢI: – Vâng, tôi xin bái phục cái gan củ

a bác. Nhưng bác này, giá bác chỉ có một mình bác thì tôi chả dám phản đối, nhưng bác không có quyền để những người thân yêu của bác cực nhọc. Bác nghe tôi, đừng mơ hồ, ngang ngạnh nữa…

ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG: – Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi, chúng ta cứ cãi vã với nhau như thế này, không bao giờ có thể xong được. Âu là bác thích giàu có, sang trọng, bác đã được toại chí rồi đấy; còn tôi, tôi ưa cái đời giản dị tầm thường, bác cứ mặc tôi …

(Trích vở bi kịch Kim tiền, Vi Huyền Đắc, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.412-414)

* Nhan Hồi: học trò xuất sắc của Khổng Tử, luôn sống vui vẻ với cảnh nghèo khó của mình.

Phân tích xung đột kịch trong vở kịch Kim Tiền và nêu ý nghĩa của xung đột 

Bài làm Phân tích xung đột kịch trong vở kịch Kim Tiền và nêu ý nghĩa của xung đột 

A. Yêu cầu

– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 400 chữ.

– Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích xung đột kịch trong tác phẩm và nêu ý nghĩa của xung đột ấy đối với tư tưởng, thông điệp mà vở kịch gửi gắm.

– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

B. Hướng dẫn gợi ý

I. MỞ BÀI

  • Giới thiệu vài nét về Vi Huyền Đắc – nhà viết kịch nổi bật đầu thế kỷ XX với những tác phẩm phê phán xã hội mạnh mẽ.

  • Kim Tiền là vở bi kịch tiêu biểu, phản ánh sâu sắc mặt trái của xã hội thực dân nửa phong kiến.

  • Dẫn dắt: Thành công của vở kịch được tạo nên từ xung đột kịch, yếu tố trung tâm làm nổi bật tư tưởng và chủ đề tác phẩm.

  • Giới thiệu vấn đề: Phân tích xung đột kịch và ý nghĩa của nó.

Vi Huyền Đắc là một trong những nhà viết kịch nổi bật của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Với vở Kim Tiền, ông đã xây dựng nên một bức tranh xã hội giàu tính hiện thực, phản ánh bi kịch con người khi đứng trước sức mạnh của đồng tiền. Trong đó, xung đột kịch đóng vai trò trung tâm, làm nên kịch tính, chiều sâu tư tưởng và sức hấp dẫn cho tác phẩm.

II. THÂN BÀI

1. Giải thích khái niệm xung đột kịch

  • Xung đột kịch là sự va chạm gay gắt giữa các quan điểm, tính cách, lực lượng xã hội trong tác phẩm.

  • Đây là yếu tố then chốt tạo nên kịch tính, thúc đẩy cốt truyện và bộc lộ tư tưởng tác giả.

2. Phân tích các xung đột trong Kim Tiền

a) Xung đột tư tưởng – lối sống (tập trung trong đoạn trích)

  • Trần Thiết Chung: sống thanh bạch, tin vào giá trị đạo đức, căm ghét sự giàu sang bất chính.

  • Cự Lợi: thực dụng, tôn thờ đồng tiền, xem tiền là “huyết mạch”, là thước đo sức mạnh và địa vị.

→ Hai quan niệm trái ngược dẫn tới đối thoại gay gắt, phơi bày bản chất xã hội kim tiền.

→ Đây là xung đột trung tâm, mở đầu cho bi kịch nhân vật.

b) Xung đột nội tâm của Trần Thiết Chung

  • Một bên: giữ phẩm giá và đời sống thanh cao.

  • Một bên: áp lực từ vợ con, nghèo đói, lời khuyên thực dụng của bạn bè.

  • Dằn vặt → lung lay → cuối cùng sa vào vòng xoáy tiền tài.

→ Xung đột này dẫn nhân vật từ người trọng đạo đức đến kẻ bị đồng tiền tha hóa.

c) Xung đột xã hội (đỉnh điểm của bi kịch)

  • Giữa Trần Thiết Chung – kẻ giàu mới tàn nhẫncông nhân mỏ than bị bóc lột.

  • Bị đối xử hà khắc, bất công, công nhân nổi dậy, kéo đến phá nhà, bắn chết ông.

→ Xung đột lên đến đỉnh điểm, kết thúc bằng cái chết hoàn toàn tất yếu của kẻ phản bội lý tưởng ban đầu.

3. Ý nghĩa của các xung đột kịch

  • Tố cáo xã hội kim tiền: đồng tiền biến người lương thiện thành kẻ độc ác, vô nhân.

  • Phơi bày bi kịch tha hóa: khi con người chạy theo tiền bạc, họ đánh mất lương tri, đánh mất tình thân và cả bản thân mình.

  • Khẳng định tư tưởng nhân đạo của Vi Huyền Đắc:

    • trân trọng những giá trị sống thanh cao, lương thiện;

    • cảnh tỉnh con người trước sức cám dỗ và phá hoại của đồng tiền;

    • kêu gọi một xã hội nhân văn, công bằng hơn.

III. KẾT BÀI

  • Khẳng định xung đột kịch là yếu tố làm nên sức mạnh nghệ thuật của Kim Tiền, giúp vở kịch vừa kịch tính vừa giàu giá trị tư tưởng.

  • Gợi liên hệ: Trong cuộc sống hiện đại, đồng tiền vẫn có sức mạnh ghê gớm; con người cần tỉnh táo để không bị cuốn vào vòng xoáy của nó.

Xung đột kịch trong Kim Tiền không chỉ tạo nên kịch tính cho tác phẩm mà còn giúp nhà văn gửi gắm tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng, đồng tiền chỉ có ý nghĩa khi phục vụ cho con người, chứ không phải biến con người thành nô lệ của nó.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *