Phân tích nhân vật ông Thứ trong truyện Sống mòn của Nam Cao

Bình chọn

Đề bài: Phân tích nhân vật ông Thứ đoạn trích sau: 

(Lược: Sau khi từ Sài Gòn trở về vì đau tim, Thứ bị thất nghiệp. Đích, anh họ Thứ, chung vốn với Oanh, vợ chưa cưới của Đích, mở một trường tư ở ngoại ô Hà Nội. Do được bổ đi làm ở xa, Đích mượn Thứ đứng chân hiệu trưởng và mời dạy mấy lớp. Ban đầu, Thứ rất hào hứng, tận tâm nhưng chỉ ít lâu, anh chán nghề…Bao nhiêu tiền thu được đều vào túi Oanh. Oanh không những bóc lột sức lao động của Thứu và San (một giáo viên của trường, dạy các lớp dưới) mà khi nấu cơm cho họ, Oanh còn bắt họ ăn uống quá kham khổ. Nhiều lần Thứ định nói chuyện dứt khoát với Oanh để giải thoát cho mình và tổ chức lại cái trường cho tử tế. Nhưng bản tính nhút nhát, do dự, sợ va chạm nên Thứ cứ  ngần ngại, để tình trạng nặng nề kéo dài. Cuộc sống chung đụng ngày càng không chịu nổi vì thói keo bẩn, thớ lựo của Oanh. Thứ bực và buồn lắm vì thấy rằng sống với người nhỏ nhen thì mình cũng thành nhỏ nhen.)

                        Thứ không đáp. Y ngẫm nghĩ. Mặt y hầm hầm và đôi môi y chụm lại. Rồi y hằn học bảo:

                        – Kiếp chúng mình, tức lạ. Sao mà cái đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế! Không bao giờ dám nhìn cao một tí. Chỉ những lo ăn, lo mặc. Hình như tất cả nguyện vọng, tất cả mong ước, tất cả mục đích của đời chúng mình, chỉ là mỗi ngày hai bữa. Bao nhiêu tài trí, sức lực lo tính đều chỉ dùng vào việc ấy. Khổ sở cũng vì thế, nhục nhã cũng vì thế, mỏi mòn tài năng, trí óc, giết chết những mong ước đẹp, những hy vọng cao xa cũng vì thế nốt. Lúc nào cũng lo chết đói. Lúc nào cũng làm thế nào cho không chết đói! Như vậy thì sống làm gì cho cực?

                        Thứ vẫn không thể nào chịu được rằng sống chỉ làm thế nào cho mình và vợ con có cơm ăn, áo mặc thôi. Sống là để làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều. Mỗi người sống, phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của mình vào công cuộc tiến bộ chung. Mỗi người chết đi, phải để lại một chút gì cho nhân loại. Có thú vị gì là cái lối sống co quắp quá ư loài vật, chẳng biết việc gì ngoài cái việc kiếm thức ăn đổ vào cái dạ dày. Có ai muốn gục mặt xuống làm gì. Đau đớn thay cho những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm gì sát đất. Hỡi ôi! Người ta đã phí bao nhiêu tâm huyết, bao nhiêu công lao để giải thoát, từ bỏ tất cả những phú quý vinh hoa của đời mình. Vô ích cả, chừng nào nhân loại chưa thoát khỏi những xiềng xích của cái đói và cái rét. Thứ thường có những lúc sực nhớ đến những cao vọng của mình xưa, ngán ngẩm buồn, tiếc cho mình. Y cứ đinh ninh rằng giá y không bị nghèo thì có lẽ y không đến nỗi đớn hèn thế này đâu. Có lẽ y sẽ làm được một cái gì. Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được một cái hoàn cảnh tốt!

(Nam Cao, Sống mòn, in trong Tuyển tập Nam Cao, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 2005, tr.259-260)

Dàn ý Phân tích nhân vật ông Thứ trong truyện Sống mòn của Nam Cao

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Nam Cao (1917–1951), quê Hà Nam, là nhà văn hiện thực xuất sắc giai đoạn 1930–1945.

– Ngòi bút Nam Cao tập trung vào hai mảng chính: người trí thức nghèo và người nông dân khốn khổ trong xã hội cũ.

– Sống mòn là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về bi kịch người trí thức nghèo, nổi bật với hình tượng nhân vật Thứ – thầy giáo nghèo bị bào mòn bởi cuộc sống khắc nghiệt.

2. Thân bài

a. Giới thiệu khái quát tác phẩm

– Sống mòn không chỉ là một cuốn tiểu thuyết về nghèo khổ, mà còn là bản cáo trạng về sự tù đọng, u tối, chậm rữa của cả một xã hội.

– Qua đó, Nam Cao phơi bày nỗi bi kịch của những trí thức nghèo sống lay lắt, bị vùi dập giữa hiện thực bất công.

b. Hoàn cảnh và số phận nhân vật Thứ

– Thứ – một thầy giáo dạy tư, từng nuôi khát vọng thoát nghèo khi rời quê lên Hà Nội.

– Nhưng thực tế phũ phàng:

+ Lương ít ỏi, không đủ nuôi bản thân và gia đình.

+ Sống trong căn nhà trọ chật hẹp, bẩn thỉu.

+ Không người thân thích bên cạnh, bị bao vây bởi sự ích kỷ, nhỏ nhen của những người xung quanh.

– Cuộc đời Thứ ngày càng rơi vào bế tắc, lặp lại quẩn quanh, dần dần trở thành một sự “chết mòn”.

c. Bi kịch tinh thần của nhân vật

– Nghèo khổ khiến Thứ căng thẳng, mệt mỏi, tâm hồn héo úa.

– Tình yêu và hạnh phúc gia đình bị huỷ hoại:

+ Mối quan hệ giữa Thứ và vợ (Liên) đầy hiểu lầm, cãi vã, chì chiết vì gánh nặng cơm áo.

+ Cái nghèo khiến anh mất đi sự cảm thông, dần khắt khe, cay nghiệt.

– Thứ tận mắt chứng kiến bi kịch của những số phận nghèo khổ quanh mình: người mẹ trẻ lam lũ nuôi con, Oanh ích kỷ nhỏ nhen, những đoàn người ăn mày rách rưới… → càng khiến anh thêm tuyệt vọng.

– Lý tưởng sống và khát vọng cống hiến bị xói mòn theo năm tháng.

d. Ý nghĩa nhan đề 

Sống mòn

– Ban đầu tác phẩm có tên Chết mòn → gợi sự bào mòn, chết dần chết mòn vì nghèo khổ.

– Nam Cao đổi thành Sống mòn → nhấn mạnh sự tồn tại lay lắt, sống mà như không sống, bị thời gian và cái nghèo gặm nhấm từng ngày.

– Nhan đề thể hiện bi kịch của Thứ nói riêng, cũng là bi kịch của cả một lớp trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ.

3. Kết bài

– Nhân vật Thứ tiêu biểu cho số phận người trí thức nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến: sống lay lắt, mòn mỏi, bất lực.

– Qua hình tượng Thứ, Nam Cao vừa tố cáo hiện thực tàn nhẫn, vừa thể hiện nỗi xót xa cho những kiếp người bị chôn vùi.

– Khẳng định giá trị nhân đạo và bút pháp hiện thực sắc sảo của Nam Cao.

Phân tích nhân vật ông Thứ trong truyện Sống mòn của Nam Cao

Bài văn mẫu Phân tích nhân vật ông Thứ trong truyện Sống mòn của Nam Cao

Sau hơn mười lăm năm cầm bút, Nam Cao đã để lại cho văn học Việt Nam một khối lượng tác phẩm đồ sộ, trong đó có những kiệt tác nổi tiếng như Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến Sống mòn là một tiểu thuyết hiện thực giàu giá trị, phản ánh chân thực bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Tác phẩm đã khắc họa rõ nét hình tượng nhân vật Thứ, người thầy giáo nghèo mang trong mình nỗi bi kịch bị cái nghèo bào mòn cả thể xác lẫn tinh thần.

Nam Cao (1917 – 1951), tên thật là Trần Hữu Tri, quê ở Hà Nam. Ông không chỉ là nhà văn mà còn là một chiến sĩ cách mạng, vừa viết văn, vừa cầm súng bảo vệ đất nước. Ngòi bút Nam Cao gắn liền với chủ nghĩa hiện thực, thường xoay quanh hai đề tài lớn: cuộc sống khốn cùng của người nông dân và bi kịch của tầng lớp trí thức nghèo. Văn chương của ông vừa chân thực, sắc sảo, vừa thấm đẫm chất trữ tình, trào phúng và giàu tính nhân đạo.

Sống mòn được Nam Cao viết năm 1944 (ban đầu có tên Chết mòn), sau đó đổi thành Sống mòn để nhấn mạnh sự bào mòn chậm rãi của kiếp người. Tác phẩm giống như một tấm gương lớn đặt giữa xã hội, để người đọc soi vào đó mà thấy những kiếp đời u ám, bế tắc trong vòng vây nghèo khổ.

Nhân vật trung tâm của truyện là Thứ – một thầy giáo nghèo, từng rời làng quê để lên Hà Nội dạy học với ước mơ đổi đời. Nhưng những khát vọng ấy dần bị dập tắt bởi hiện thực phũ phàng. Đồng lương ít ỏi không đủ sống, cuộc sống trong căn gác trọ ẩm thấp, bẩn thỉu khiến Thứ mệt mỏi. Anh luôn bị bao vây bởi sự ích kỷ, nhỏ nhen, thiếu tình người của những kẻ xung quanh. Cái nghèo không chỉ hành hạ thân xác mà còn bào mòn tinh thần, làm cho Thứ có cảm giác mình đang “chết dần” trong từng ngày sống.

Đau đớn hơn, nghèo đói còn phá vỡ hạnh phúc gia đình Thứ. Cuộc sống túng quẫn khiến vợ chồng Thứ – Liên luôn mâu thuẫn, hiểu lầm, chì chiết nhau. Tình yêu dần phai nhạt, thay vào đó là những lời cãi vã, trách móc. Thứ vốn là người có lý tưởng, có khát vọng sống đẹp, nhưng tất cả dần bị cái nghèo bào mòn, khiến anh trở nên bi quan, bất lực, đôi khi tàn nhẫn ngay với chính vợ mình.

Qua Thứ, Nam Cao còn mở rộng bức tranh hiện thực với nhiều số phận nghèo khổ khác: người mẹ trẻ lam lũ nuôi con trong cảnh chồng hờ hững; Oanh là một cô gái có học thức nhưng vì nghèo mà trở nên nhỏ nhen, ích kỷ; hay đoàn người ăn mày rách rưới nơi đầu đường xó chợ chỉ mong chờ miếng ăn thừa từ kẻ giàu. Tất cả như để khẳng định: cái nghèo không chỉ làm con người khổ xác, mà còn giết chết tâm hồn, lý tưởng và nhân phẩm.

Nhan đề Sống mòn chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Ban đầu Nam Cao đặt tên tác phẩm là Chết mòn gợi sự tàn rữa, chết dần vì cái nghèo. Nhưng ông đổi thành Sống mòn để nhấn mạnh bi kịch: con người vẫn tồn tại, vẫn thở, nhưng đó chỉ là sự lay lắt, mòn mỏi, vô nghĩa. Sống mà như chết, đó là cái đau đớn nhất của kiếp người.

Như vậy, Thứ không chỉ là một nhân vật hư cấu, mà còn là điển hình cho lớp trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ: sống lay lắt, bị thực tại tàn nhẫn bào mòn lý tưởng. Qua hình tượng này, Nam Cao không chỉ lên án hiện thực xã hội bất công mà còn gửi gắm niềm xót xa cho những kiếp người nhỏ bé.

Tóm lại, nhân vật Thứ trong Sống mòn là minh chứng rõ nét cho tài năng và tấm lòng nhân đạo của Nam Cao. Ông đã dựng lên bức tranh hiện thực đầy u ám, qua đó lay động lương tri con người, nhắc nhở chúng ta rằng: sống không chỉ là tồn tại, mà cần phải sống có ý nghĩa, nuôi dưỡng khát vọng để không bị “sống mòn” trước nghịch cảnh.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online