Phân tích văn bản Nàng Bua của Nguyễn Huy Thiệp

Bình chọn

Đề bài: Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản Nàng Bua của Nguyễn Huy Thiệp

NÀNG BUA

(Nguyễn Huy Thiệp)

(1) Ở Hua Tát có một người đàn bà đặc biệt là Lò Thị Bua. Đi ra đường không ai chào hỏi nàng. “Quỷ dùi đấy! Đừng gần nó!” Các bà mẹ dặn con như thế. Các bà vợ dặn chồng như thế.

Bua là một thiếu phụ duyên dáng. Người nàng cao lớn, đôi hông to khỏe, thân hình lần chắc, bộ ngực nở nang mềm mại. Nàng lúc nào cũng tươi cười, tràn trề thứ ánh sáng cuốn hút lòng người.

Bua ở một mình với chín đứa con của nàng. Không ai biết bố chúng là ai. Ngay với Bua nàng cũng không biết đích xác bố của từng đứa một. Rất nhiều người đàn ông đến với nàng rồi sau đó họ bỏ rơi nàng. Những anh chàng thiếu niên miệng còn hơi sữa chưa đủ kinh nghiệm làm bố, những ông giả từng trải, những người thợ săn dũng cảm, những kẻ hà tiện… Mỗi người đến với Bua một cách và họ ra đi cũng chẳng có ai giống nhau. Chuyện tình ái, giống đực thường khôn ngoan và vô trách nhiệm, giống cái thì nhẹ dạ và tận tụy quá. Bua nồng nàn với tất cả những người đàn ông đến với nàng và cũng lãnh đạm với tất cả những người đàn ông bỏ rơi nàng. Những đứa con không bố sinh ra tự nàng lo liệu lấy chúng. Bua không quyến luyến, gắn bó với bất cứ người đàn ông nào trong bản. Nàng sống trờ trờ trước mắt mọi người. Nàng có chú ý đến mọi người không, nào ai biết được?

Cái hộ gia đình đông đúc của nàng Bua sống vui vẻ, hòa thuận và nghèo túng. Đàn bà trong bản nổi khủng, họ rút lên những lời khinh rẽ qua kẽ răng. Thực ra lòng họ  sợ hãi. Đàn ông trong bản cười cợt, thèm thuồng. Họ ngồi cạnh nhau quanh các bếp lửa, nước dãi nhỏ ra bên khóe mép, đôi mắt long lanh, trom tuột.

Ở Hua Tát, mọi người đều có gia đình nền nếp của mình. Ai cũng phải sống theo phong tục cổ truyền, vợ có chồng, con có bố. Thật chưa bao giờ có một gia đình quái gở thể này? Vợ không chồng! Con không bố! Chín đứa con! Chín đứa mà chẳng đứa nào giống một đứa nào? Những lời đàm tiếu như nạn dịch lan nhanh trong bản. Ở đàn bà, đấy là nạn dịch bọ gà. Ở đàn ông, đấy là nạn dịch sốt… Kẻ bị hành hạ nhiều nhất là đám phụ nữ. Họ buộc cánh đàn ông phải có cách gì giải quyết ổn thỏa việc này. Hoặc là phải đuổi Bua đi, hoặc là tìm ra bố của những đứa trẻ. Sao lại để một gia đình như thế ở trong cộng đồng Hua Tát? Những đứa trẻ lớn lên nỗi chúng sẽ trở thành trai bản, gái bản. Chúng sẽ phá vỡ tất cả nền nếp cổ truyền.

Cuộc họp của cánh đàn ông trong bản Hua Tát nhiều lần dự định không thành. Nhiều người đàn ông thấy mình có lỗi ở trong chuyện ấy. Lương tâm họ cắn rút. Đứng ra nhận con thì không ai dám. Họ sợ miệng lưỡi của các bà vợ nông nổi, thủy chung. Họ sợ dư luận. Đáng sợ hơn cả còn là cuộc sống nghèo túng.

(2) Năm ấy, không hiểu sao rừng Hoa Tất cả mài nhiều vô kể. Người ta đào được những củ mài to tướng dễ như bỡn. Những củ mài xốp, thơm hanh hanh và ngậy, ninh lên bở tơi, ăn hơi tê rát vòm miệng rất thú. Nàng Bua và lũ con cũng kéo nhau đi đào. Rừng hào phóng và bao dung với tất cả mọi người.

Một bữa, lần theo rễ củ, Bua và lũ con đào được một cái hũ sành sứt mẻ, nước da lươn đã xin vì năm tháng. Bua gạt lớp đất ở miệng hũ sành và nàng ngạc nhiên thấy hũ chứa đầy những thoi vàng, thoi bạc lấp lánh. Bua rụng rời, run rẩy cả người, đầu gối nàng quỵ xuống, những giọt nước mắt sung sướng giàn giụa. Lũ con xúm xít xung quanh, sợ hãi nhìn mẹ.

Thoắt một cái, người đàn bà nghèo khó và bị khinh rẻ trở thành giàu có nhất bản, nhất mường.

Bây giờ, cuộc họp của cánh đàn ông về Bua không còn cần nữa. Người ta lần lượt tìm đến nhà Bua để nhận con mình. Các bà vợ nông nổi và thủy chung giục giã chồng mình đi nhận con về. Hóa ra không phải là chín ông bố, cũng không phải là hai chục nữa. Bọn họ có đến cả năm chục người. Tuy nhiên, Bua không thừa nhận những người đàn ông ấy là bố của những đứa trẻ. Họ đến và ai cũng được một món quà tặng làm vui lòng các bà vợ nền nếp của mình.

(3) Cuối năm ấy, Bua lấy một người thợ săn hiền lành, góa vợ và không con cái. Có lẽ đây mới là tình yêu của nàng vì nàng đã rơi những giọt nước mắt hạnh phúc trong đêm hợp cẩn. Với những người đàn ông trước, ở nàng không có những giọt lệ ấy. Đáng lẽ ra Bua sẽ sinh với người chồng được thừa nhận của mình một đứa con nữa, đứa con thứ mười, nhưng người đàn bà ấy không quen sinh nở trong sự đầy đủ và nền nếp cổ truyền. Nàng đã chết khi trở dạ để giữa đống mền chăn ấm áp.

Đám ma nàng, cả cộng đồng Hua Tát đi đưa. Cả đàn ông, cả đàn bà, cả trẻ con nữa. Người ta tha thứ cho nàng, có lẽ nàng cũng tha thứ cho họ.

1971

(Theo Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp với minh họa của các hoạ sĩ, NXB Văn học, 2020)

Phân tích văn bản Nàng Bua của Nguyễn Huy Thiệp

Bài làm Phân tích văn bản Nàng Bua của Nguyễn Huy Thiệp

A. Yêu cầu

– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

– Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Nàng Bua” của Nguyễn Huy Thiệp.

– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

B. Hướng dẫn gợi ý

* Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Nguyễn Huy Thiệp: cây bút tài năng, được xem là “hiện tượng văn học” cuối thế kỉ XX, với nhiều truyện ngắn giàu tính triết lí, nhân văn.

– Giới thiệu tác phẩm “Nàng Bua”: một truyện ngắn độc đáo, kết hợp hiện thực và màu sắc cổ tích, gợi nhiều suy ngẫm về thân phận con người và những giá trị nhân văn.

– Nêu vấn đề nghị luận: phân tích văn bản để thấy rõ vẻ đẹp nhân vật Bua, màu sắc cổ tích, và tư tưởng nhân văn nhà văn gửi gắm.

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Huy Thiệp được xem là một trong những cây bút tài năng, để lại dấu ấn đặc biệt với những truyện ngắn giàu tính hiện thực và nhân văn. Một trong những tác phẩm giàu sức gợi ấy là truyện Nàng Bua. Tác phẩm mang màu sắc cổ tích nhưng lại thấm đẫm nỗi đau nhân tình, qua đó nhà văn khắc họa số phận và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ, đồng thời gửi gắm tư tưởng nhân văn sâu sắc.

* Thân bài:

1. Khái quát về văn bản

– Hoàn cảnh ra đời: sáng tác năm 1971, sau in lại trong tập truyện của Nguyễn Huy Thiệp.

– Tóm tắt nội dung:

+ Bua là người đàn bà bị khinh rẻ vì sống một mình cùng chín đứa con không rõ cha.

+ Dù bị cả bản kì thị, nàng vẫn sống tự tin, yêu đời, nuôi con khôn lớn.

+ Nàng và con tình cờ đào được hũ vàng, từ đó trở thành người giàu có.

+ Sau cùng, Bua kết hôn với một người thợ săn hiền lành, nhưng lại mất khi sinh nở.

+ Đám tang nàng có cả cộng đồng Hua Tát đưa tiễn – như một sự tha thứ và đồng cảm muộn màng.

2. Phân tích văn bản

a) Hình tượng nhân vật Nàng Bua

– Bi kịch và sự cô độc: bị cả bản xa lánh, miệt thị (“quỷ dùi”), gia đình “quái gở” không chồng mà có đến chín con.

– Phẩm chất đáng quý:

+ Yêu đời, tươi cười, lạc quan.

+ Bao dung, không oán trách những người đàn ông bỏ rơi mình.

+ Tự trọng, không đòi hỏi trách nhiệm từ bất kì ai, không phá vỡ hạnh phúc gia đình khác.

+ Giàu lòng nhân ái, phóng khoáng (chia sẻ của cải khi trở nên giàu có).

– Khao khát tình yêu, hạnh phúc: chỉ khi đến với người thợ săn hiền lành nàng mới thực sự rơi lệ hạnh phúc.

→ Hình tượng Bua gợi vẻ đẹp nữ tính, nhân bản, đồng thời là sự phản kháng âm thầm với định kiến xã hội.

b) Màu sắc cổ tích trong truyện

– Không gian, thời gian phiếm chỉ: “Năm ấy…”, “Cuối năm ấy…”, “rừng Hua Tát”…

– Cốt truyện theo mô-típ cổ tích: “ở hiền gặp lành” – Bua chịu nhiều khổ cực nhưng sau đó được bù đắp (đào được hũ vàng, có được tình yêu đích thực).

– Nhân vật thuộc tuyến thiện: Bua thiện lương, bao dung, giàu tình yêu thương.

– Yếu tố kì ảo: hũ vàng xuất hiện bất ngờ – chi tiết quen thuộc trong truyện cổ tích.

→ Màu sắc cổ tích khiến truyện vừa lung linh huyền ảo, vừa thấm đẫm ý nghĩa nhân văn.

c) Giá trị và tư tưởng nhân văn

– Cảm thông sâu sắc với người phụ nữ bất hạnh, bị định kiến xã hội vùi dập.

– Đề cao phẩm chất cao đẹp của con người: nhân hậu, lạc quan, khao khát yêu thương.

– Gửi gắm niềm tin: cái thiện, cái đẹp cuối cùng sẽ được đền đáp.

– Lời nhắc nhở: cần bao dung, trân trọng và giải phóng con người khỏi định kiến cổ hủ.

* Kết bài:

– Khẳng định lại: “Nàng Bua” là một truyện ngắn giàu giá trị nghệ thuật và nhân văn, kết hợp hiện thực với màu sắc cổ tích.

– Tác phẩm không chỉ dựng lên hình tượng người phụ nữ đẹp đẽ, giàu lòng nhân ái, mà còn gợi ra những suy ngẫm về xã hội, về khát vọng hạnh phúc muôn đời.

– Liên hệ: Câu chuyện nhắc nhở mỗi người cần sống nhân ái, bao dung, vượt qua định kiến để hướng đến những giá trị tốt đẹp.

Có thể nói, Nàng Bua là một truyện ngắn độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn hiện thực với màu sắc cổ tích. Hình tượng nhân vật Bua vừa đẹp đẽ, vừa bi kịch, gợi nhiều suy ngẫm về thân phận con người và giá trị nhân văn muôn đời. Đọc tác phẩm, ta càng trân trọng hơn khát vọng hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ và thấy mình cần sống bao dung, nhân ái hơn trong cuộc đời.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online