Phân tích truyện ngắn Đứa bé ăn mày của nhà văn Thái Bá Tân

Bình chọn

Đề bài: Phân tích truyện ngắn Đứa bé ăn mày của nhà văn Thái Bá Tân

(Lược một đoạn: Một buổi trưa nắng và vắng người, một cậu bé ăn mày mù lòa, tay cầm gậy dò đường, vai mang bị đi vào làng Thượng. Một cậu bé khác đang chơi bi dưới gốc cây đa đầu làng, bực mình vì bắn mãi mà viên bi không vào lỗ, đã thế còn lăn đi đâu mất, đã lén đến và giật lấy chiếc gậy của cậu bé ăn mày. Không có gậy để dò đường, cậu bé ăn mày bước nhầm xuống cái giếng làng nằm sát đường, không có bờ gạch bao quanh và bị chết đuối. Người làng đã chôn cất cậu tại khu vực nghĩa địa dành cho người vô gia cư. Lạ là sau đó ngôi mộ của cậu bé ăn mày cứ ngày một phình to ra, rồi làng Thượng bị mất mùa liên tiếp, nhiều người trong làng phải xách bị gậy đi ăn mày. Khi nghề ăn mày đã trở thành một nghề chính của làng, cậu bé ăn mày nọ được tôn làm thành hoàng làng, và làng Thượng dần được dân gian gọi là Làng Ăn Mày).

– Chính tôi là thằng bé chơi bi láo lếu ấy đấy, ông ạ, ông M. thở dài nói.

Ông là hàng xóm của tôi. Hàng xóm với nghĩa nhà cạnh nhau chứ giữa nghề viết lách của tôi và nghề buôn sắt vụn phát đạt của ông chẳng có gì liên quan. Ông quý tôi vì tôi nhiều chữ. Tôi chơi với ông vì ông nhiều tiền mà không hợm mình, và cả vì ông đồng ý để chúng tôi luân phiên nhau trả tiền bia ở quán Gió Mới bên cầu Long Biên. Xưa nay ông nổi tiếng hảo tâm, một nhà từ thiện đích thực. Có lẽ ông đã cúng tới hàng chục, nếu không muốn nói hàng trăm triệu đồng cho mục đích cao cả ấy, mà đối tượng bao giờ cũng là những đứa trẻ mù. Trường Nguyễn Ðình Chiểu coi ông như ân nhân. Một số trường khiếm thị ở các địa phương khác cũng vậy.

– Tất nhiên lúc ấy tôi chẳng dám cho ai biết tôi đã làm thằng bé ăn mày phải chết, – ông nói tiếp sau khi uống một hơi hết sạch vại bia. – Tôi hối hận và sợ lắm. May mà tháng sau bố tôi (một cán bộ có cỡ ở Tổng cục Thống kê) đưa cả nhà lên sống hẳn ở Hà Nội. Từ bấy đến nay tôi chẳng một lần dám trở lại làng Thượng. Vì sao thì ông biết. Tuy vậy, tôi biết hết mọi chuyện xảy ra ở làng. Tôi hỏi thật nhé: Ông có mê tín không?

– Không, tôi đáp.

– Ông có tin vào báo ân, báo oán không?

– Tôi không tin. Sao ông hỏi vậy? Ông tin à?

Ông M. trầm ngâm một chốc rồi nói, vẻ bần thần:

– Cả có mà cả không. Nhưng tôi cứ thấy nó thế nào ấy, nhất là thời gian gần đây. Có lẽ tôi già rồi đâm lẩn thẩn. Nói ông đừng cười, đêm nào nằm ngủ tôi cũng nghe tiếng gõ chiếc gậy trúc của thằng bé kia và tiếng kêu yếu ớt: “Ai đó trả lại gậy cho tôi, đừng đùa”. Tình hình có vẻ như ngày càng tồi tệ. Tôi chẳng biết phải tính sao đây. Ông khuyên tôi làm gì bây giờ?

Tôi ngồi im vì chẳng biết trả lời thế nào.

– Hay ông đi khám bác sĩ thần kinh, – cuối cùng tôi lên tiếng. – Thời này khối người căng thẳng như ông. Tôi cũng chẳng hơn gì. Còn chuyện thằng bé thì chỉ do ông hay nghĩ đến nó mà tưởng tượng ra thôi.

Tôi an ủi, mặc dù tự biết ở đây có cái gì đó nghiêm trọng và đáng sợ hơn nhiều.

Mấy hôm sau, trước lời năn nỉ của ông M., và cũng vì tò mò, tôi nhận lời cùng đi với ông về làng Thượng, Làng Ăn Mày.

Ông M. thắp hương, lầm rầm khấn vái hồi lâu trước bàn thờ thành hoàng làng mình. Trước đấy tôi cũng thắp một nén, gọi là tưởng nhớ vong linh thằng bé xấu số. Tôi tế nhị bỏ ra ngoài để ông được tự nhiên sám hối, hi vọng sẽ thanh thản hơn đôi chút. Bằng đức tính nhân từ vốn có và những việc làm từ thiện xưa nay, ông xứng đáng được hưởng một tuổi già thanh thản.

Tối hôm ấy chúng tôi ngủ lại nhà một người bà con xa của ông M.. Nhà ngói hẳn hoi, có tivi, có đài, anh con trai chủ nhà còn có cả xe máy, xe Nhật chứ chẳng phải Tàu. Từ lâu dân làng Thượng không còn xách bị đi ăn xin, nhưng người ta vẫn thành kính thờ cúng ông tổ ăn mày của làng. Ngôi mộ của ông đã phát càng phát thêm, nay gần giống một cái gò nhỏ, trẻ con không dám cho trâu bò dẫm lên.

Nửa đêm, tôi đang ngủ say sau một ngày đi đường vất vả thì bị ông M. túm tay áo giật mạnh. Ông hoảng hốt thì thầm:

– Ông nhìn kìa. Ngài đấy!

– Ngài nào? Tôi ngạc nhiên hỏi vì chẳng thấy gì.

– Thành hoàng làng Thượng! Ðứa bé ăn mày…

Ông M. không nói hết câu, liền sụp xuống đất, vái lạy liên hồi:

– Con xin ngài tha tội. Dạ, con xin ngài tha tội. Con trót dại… Con chỉ đùa… Lúc ấy con còn nhỏ… Con xin ngài tha tội! Con xin ngài…

– Ông làm sao thế? – Tôi định đỡ ông dậy nhưng ông không chịu. – Tôi có thấy gì đâu! Ông vái lạy ai đấy?

Quả tôi không thấy gì thật. Nhưng ông M. vẫn tiếp tục cầu khẩn van xin. Dẫu chẳng tin ma quỷ và không thuộc loại nhát gan, tôi vẫn thấy ớn lạnh khắp người.

Lát sau, ông M. im lặng ngồi rũ xuống sàn nhà, thở hổn hển:

– Ngài đi rồi. Ði mà chẳng nói gì cả. Nghĩa là ngài không tha thứ cho tôi. Trời ơi, tôi phải làm gì bây giờ?…

Lúc này tôi mới lọ mọ lại gần chiếc công tắc điện để bật đèn. Ông M. mặt cắt không còn hột máu. Ông ngồi yên trong tư thế ấy rất lâu, cuối cùng, như để xác minh về sự hiện diện có thật của ngài, ông quay sang tôi, chìa ra một viên bi thủy tinh bóng loáng dưới ánh đèn.

– Ngài để lại đấy!

***

Sau đó có việc, tôi đi công tác xa ba tháng. Lúc về thì được tin ông M. đã chết. Người ta kể rằng ông hóa điên, đi đâu cũng ngửa tay xin ăn như thằng ăn mày. Bị con cháu nhốt trong nhà và cả ở bệnh viện tâm thần, gặp ai ông cũng xin. Có người cho hòn đá, ông rối rít cảm ơn, xúc động đến rơi nước mắt.

Một hôm, ông khôn khéo trốn khỏi bệnh viện. Ðến tối thì có người thấy ông nằm chết trong chiếc ao nhỏ cạnh Cầu Chui Gia Lâm. Vì ao hầu như không có nước, chỉ toàn bùn, nên ông không chìm. Ấy thế mà ông chết. Một điều lạ nữa là lúc chết ông đeo chiếc bị cói sát nách, tay giữ chặt chiếc gậy trúc già trơn bóng, những thứ trước đấy chưa ai nhìn thấy bao giờ.

Một người nhân đức nhường ấy mà phải chết thế thì thật tội nghiệp, ông trưởng dân phố nơi ông M. sống bùi ngùi nói khi người ta liệm ông vào quan tài.

(Trích “Đứa bé ăn mày” – Thái Bá Tân, in trong Thái Bá Tân – Truyện ngắn chọn lọc, NXB Lao động, Hà Nội, 2013)

Dàn ý Phân tích truyện ngắn Đứa bé ăn mày của nhà văn Thái Bá Tân

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Thái Bá Tân: nhà văn có phong cách viết sắc sảo, giàu chất triết lí, thường khai thác mặt tối của lương tri con người qua những tình huống truyện giàu ám ảnh.

  • Giới thiệu truyện ngắn “Đứa bé ăn mày”: một câu chuyện mang màu sắc huyền ảo, li kì nhưng thấm đẫm giá trị nhân văn.

  • Khái quát vấn đề nghị luận: truyện đặt ra những suy ngẫm sâu sắc về tội lỗi – sự hối hận – lương tâm – báo ứng, qua bi kịch của đứa bé ăn mày mù lòa và số phận ông M.

II. Thân bài

1. Tình huống truyện và cốt truyện

  • Tình huống mở đầu:

    • Một buổi trưa vắng người, cậu bé ăn mày mù lòa đi vào làng Thượng.

    • Cậu bé chơi bi vì bực tức đã giật gậy của đứa trẻ mù, dẫn đến cái chết oan khuất của em.

  • Diễn biến hậu quả:

    • Đứa bé chết đuối, được chôn cất sơ sài.

    • Ngôi mộ ngày càng phình to, làng Thượng liên tiếp mất mùa, dân làng phải đi ăn mày.

    • Cậu bé ăn mày được tôn làm thành hoàng làng.

  • Cao trào truyện:

    • Người kể chuyện phát hiện ông M. chính là đứa trẻ chơi bi năm xưa.

    • Ông sống trong ám ảnh tội lỗi, nghe tiếng gõ gậy, tiếng kêu xin trả lại gậy.

  • Kết cục bi thảm:

    • Ông M. hóa điên, đi xin ăn như một kẻ ăn mày.

    • Chết trong tư thế của chính đứa trẻ mù năm xưa, với bị cói và gậy trúc.

Tình huống truyện nghịch lí, giàu kịch tính, tạo sức ám ảnh mạnh mẽ.

2. Hình ảnh đứa bé ăn mày – biểu tượng của nỗi oan khuất và công lí đạo đức

  • Hoàn cảnh đáng thương:

    • Trẻ em, mù lòa, vô gia cư, lang thang kiếm sống.

    • Bị cướp đi phương tiện sống duy nhất – chiếc gậy dò đường.

  • Cái chết oan nghiệt:

    • Không phải tai nạn ngẫu nhiên mà do sự vô cảm, ác ý của con người.

    • Cái chết phơi bày mặt tối của bản năng ích kỉ, tàn nhẫn.

  • Sau cái chết:

    • Trở thành thành hoàng làng ăn mày – yếu tố huyền ảo, mang tính biểu tượng.

    • Đại diện cho công lí đạo đức, tiếng nói của lương tri bị chà đạp.

→ Đứa bé ăn mày là hình ảnh kết tinh của nỗi đau, sự bất công và lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với con người.

3. Nhân vật ông M. – bi kịch của lương tâm và sự trừng phạt nội tâm

  • Quá khứ tội lỗi:

    • Hành động giật gậy xuất phát từ trò đùa trẻ con nhưng gây hậu quả khôn lường.

    • Sự hèn nhát: im lặng, bỏ chạy, không dám đối diện sự thật.

  • Hiện tại:

    • Trở thành người giàu có, làm từ thiện cho trẻ mù – như một cách chuộc lỗi vô thức.

    • Luôn sống trong trạng thái nửa tin nửa sợ về báo oán, báo ân.

  • Ám ảnh tâm lí:

    • Nghe tiếng gõ gậy, tiếng gọi đòi lại công bằng.

    • Cuộc gặp gỡ huyền ảo với “thành hoàng làng”.

  • Cái chết:

    • Ông chết trong hình hài của kẻ ăn mày – sự trừng phạt mang tính biểu tượng.

    • Không phải sự trừng phạt của thần linh, mà của lương tâm và nỗi day dứt.

→ Ông M. là hình ảnh tiêu biểu cho con người không thoát khỏi phán xét của chính mình.

4. Giá trị hiện thực và nhân đạo

  • Giá trị hiện thực:

    • Phơi bày sự vô cảm, ích kỉ có thể gây ra những thảm kịch không thể cứu vãn.

    • Cảnh báo hậu quả lâu dài của cái ác dù chỉ trong khoảnh khắc.

  • Giá trị nhân đạo:

    • Cảm thương sâu sắc cho số phận những con người yếu thế.

    • Đề cao trách nhiệm đạo đức và lòng trắc ẩn của con người.

5. Nghệ thuật đặc sắc

  • Kết hợp nhuần nhuyễn hiện thực và yếu tố huyền ảo.

  • Giọng kể lạnh, tỉnh táo nhưng ám ảnh.

  • Kết cấu vòng tròn: tội ác – ám ảnh – trừng phạt.

  • Chi tiết biểu tượng giàu sức gợi: chiếc gậy trúc, viên bi, cái bị ăn mày.

III. Kết bài

  • Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Đứa bé ăn mày.

  • Truyện là lời cảnh tỉnh sâu sắc về lương tâm, trách nhiệm và cái giá của sự vô cảm.

  • Gợi cho người đọc suy ngẫm về cách sống nhân hậu, biết yêu thương và tôn trọng con người.

Phân tích truyện ngắn Đứa bé ăn mày của nhà văn Thái Bá Tân

Bài làm Phân tích truyện ngắn Đứa bé ăn mày của nhà văn Thái Bá Tân

Dưới ngòi bút giàu suy tư và ám ảnh của Thái Bá Tân, truyện ngắn “Đứa bé ăn mày” không chỉ kể lại một câu chuyện mang màu sắc huyền ảo, li kì mà còn đặt ra những vấn đề nhức nhối về lương tâm, tội lỗi và sự trừng phạt của đạo đức con người. Bằng một cốt truyện tưởng như đơn giản, nhà văn đã khơi gợi những suy ngẫm sâu xa về cái ác vô tình và cái giá phải trả khi con người quay lưng lại với lòng nhân ái.

Truyện mở ra bằng một tình huống tưởng chừng rất đời thường: giữa buổi trưa vắng, một cậu bé ăn mày mù lòa dò dẫm bước vào làng Thượng, trong khi một cậu bé khác đang chơi bi dưới gốc đa đầu làng. Chỉ vì bực bội, hiếu thắng và vô tâm, cậu bé chơi bi đã giật chiếc gậy – vật dẫn đường duy nhất của đứa trẻ mù. Hành động ác ý ấy đã đẩy cậu bé ăn mày vào cái chết oan nghiệt khi em bước nhầm xuống chiếc giếng không bờ. Từ một trò đùa trẻ con, bi kịch đã xảy ra, để lại một vết thương không bao giờ khép lại trong lương tri con người. Sau cái chết ấy, ngôi mộ của đứa bé ngày càng phình to, làng Thượng liên tiếp mất mùa, dân làng lâm vào cảnh ăn mày, và cậu bé mù được tôn làm thành hoàng làng. Cốt truyện vì thế dần chuyển từ hiện thực sang huyền ảo, tạo nên một không khí vừa rùng rợn vừa day dứt.

Hình ảnh đứa bé ăn mày hiện lên như một biểu tượng của nỗi oan khuất và bất công. Em là một đứa trẻ yếu thế nhất trong xã hội: mù lòa, không nhà cửa, không người thân nương tựa, sống lay lắt bằng sự bố thí của người đời. Chiếc gậy trúc không chỉ là công cụ dò đường mà còn là điểm tựa để em tồn tại. Việc bị cướp mất chiếc gậy ấy đồng nghĩa với việc em bị tước đoạt quyền sống. Cái chết của đứa bé không chỉ khiến người đọc xót xa mà còn trở thành lời tố cáo thầm lặng đối với sự vô cảm và tàn nhẫn của con người. Khi đứa bé được tôn làm thành hoàng, yếu tố huyền ảo ấy không mang màu sắc mê tín mà mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: công lí đạo đức không bao giờ biến mất, nó chỉ chuyển hóa để cất lên tiếng nói mạnh mẽ hơn.

Đối lập với đứa bé ăn mày là nhân vật ông M., kẻ đã gây ra bi kịch năm xưa. Dù đã trưởng thành, giàu có và nổi tiếng hảo tâm, ông vẫn không thể thoát khỏi ám ảnh lương tâm. Những việc làm từ thiện dành cho trẻ mù dường như là một nỗ lực âm thầm để chuộc lại lỗi lầm quá khứ. Tuy nhiên, sự hối hận muộn màng ấy không thể xóa đi tội ác đã gây ra. Ông sống trong trạng thái nửa tin nửa ngờ về báo ân, báo oán, bị dày vò bởi tiếng gõ gậy và lời kêu xin trong giấc ngủ. Cao trào của truyện là khi ông đối diện với “thành hoàng làng”, đứa bé ăn mày năm xưa và nhận lấy sự trừng phạt nặng nề nhất: không phải cái chết tức thì, mà là sự hóa điên, hóa thành chính hình hài của kẻ ăn mày mà ông từng hủy hoại. Cái chết của ông M. trong chiếc ao bùn, với bị cói và gậy trúc trong tay, là một kết cục đầy ám ảnh, thể hiện quy luật nhân quả nghiệt ngã: con người không thể chạy trốn mãi khỏi sự phán xét của lương tâm.

Thông qua câu chuyện, Thái Bá Tân đã gửi gắm những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Truyện là lời cảnh báo mạnh mẽ về sự vô cảm, chỉ một hành động nhỏ nhưng thiếu tình người cũng có thể gây ra hậu quả khôn lường. Đồng thời, tác phẩm bày tỏ niềm xót thương đối với những phận người yếu đuối, bị bỏ quên bên lề xã hội. Nghệ thuật kể chuyện giản dị, giọng văn lạnh mà thấm, cùng sự đan xen khéo léo giữa hiện thực và huyền ảo đã tạo nên sức ám ảnh lâu bền cho tác phẩm.

Có thể nói, “Đứa bé ăn mày” không chỉ là một truyện ngắn mang màu sắc li kì mà còn là bản cáo trạng đối với cái ác và sự vô tâm của con người. Qua bi kịch của đứa bé mù và số phận ông M., Thái Bá Tân nhắc nhở mỗi chúng ta phải sống nhân ái, có trách nhiệm với hành động của mình, bởi lương tâm dù bị chôn vùi đến đâu vẫn sẽ lên tiếng, và cái giá phải trả cho sự vô cảm đôi khi là cả một đời người.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online