Đề bài: Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản Tiếng của sum vầy của Vũ Thị Huyền Trang
TIẾNG CỦA SUM VẦY (trích)
(Vũ Thị Huyền Trang)
[Lược trích: Gia cảnh nghèo khó nên vợ ông Sáu đi xuất khẩu lao động cũng đã hơn hai chục năm trời. Hai đứa con “đủ lông đủ cánh cũng bay đi”, mải miết ở thành phố xa xôi, hoa lệ. Một mình ông ở nhà làm bạn cùng lũ chim gáy trong lồng. Biết ông Sáu hay đi nhậu bỏ bê nhà cửa nên vợ gọi người lắp hẳn hai cái camera để tiện bề theo dõi.]
Mấy đêm nay ông ngủ rất ngon, chắc là do làm mệt. Nhưng có đêm tỉnh giấc vì tiếng gió khua khoảng ngoài sân lại khiến ông nôn nao đến lạ. Hệt như cái đêm cuối đông đầu xuân năm ấy. Khi mà ông chuẩn bị đón bà về làm dâu trong căn nhà tuềnh toàng. Niềm hạnh phúc xen lẫn nỗi lo toan đã khiến ông không tài nào ngủ tiếp. Đã bao nhiêu cái Tết trôi qua gia đình ông không có cảnh đủ đầy sum họp. Cái bánh chưng con gái xách về từ chợ để lăn lóc mốc meo. Bếp Tết nguội lạnh vì ông và thằng Cả đi nhậu suốt. Con Ut hay theo bạn ăn Tết xê dịch tận đẩu đâu. Vắng người đến nụ đào, bông cúc ngoài vườn còn nở ơ hờ huống chi là con người. Ông trở mình nghe gió kéo dài thành vệt lá dưới sân. Hình như lũ chim trong lồng cũng không sao ngủ được.
Ngày hai ba tháng Chạp, lúc ông đang lúi húi định mang cá chép ra sông thả thì chiếc xe taxi rẽ vào tận sân nhà. Thấy ông đứng ngẩn người, bà cười bảo: “Ông không xách đồ vào giúp tôi còn đứng đấy làm gì”. Chẳng kịp nghỉ ngơi, bà nhìn quanh nhà chỗ này cần quét dọn, chỗ kia cần sắp xếp. Ông thích nhìn bà đứng chống nạnh xem cái bình gốm mới mang về đặt chỗ nào cho đẹp. Chậu cây cảnh đặt ví trí đó đã hợp phong thuỷ hay chưa. Chưa gì ông đã thấy nhà cửa ấm ran, con chó con mèo cũng xoắn xuýt vui, chạy ra chạy vào vướng chân phát bực. Những người đàn bà lạ thật. Họ đi đến đâu là nhà cửa sạch sẽ, chăn màn thơm tho, bếp ấm lửa, cơm canh nóng hổi. Lúc đi qua thềm nhà, bất giác ngẩng lên nhìn mắt camera nhấp nháy, ông khẽ nở nụ cười chỉ tay vào người vợ đang ngồi bóc vỏ hành ở giữa sân. Ý như muốn nói “mẹ tụi bay đã về rồi. Về hẳn.”
Nhà đông khách hẳn, dĩ nhiên không phải là bạn nhậu của ông. Toàn là chị em phụ nữ chạy qua rủ nhau đi chợ hoa, đi ăn, xem tát cả đồng chọn con to Tết làm nồi lẩu. Có khi gọi nhau sang chỉ để nhấm thử giò tai, mẻ mứt táo vừa mới ngào xong. Tiện câu chuyện thì hỏi nhau cuộc sống ở bên Đài Loan thế nào? Tết bên đó ra sao? Ở bên đó bao nhiêu năm giờ về quê có khi buồn nhỉ? Có còn thấy hợp với khẩu vị quê nhà? Hay là ăn cơm canh bên đó quen rồi? Ờ quen thì quen đấy nhưng hương vị quê nhà nó nằm trong sâu thẳm kí ức của mình. Đến tận khi nằm xuống người ta còn mang theo, quên làm sao cho được. Ngủ trăm giấc xứ người không bằng phút chợp mắt bình yên ở quê hương. Ăn trăm món cao sang cũng không bằng bát dưa cà mắm muối. Chân mình đi nhưng hồn mình ở lại. Không tin thì các chị cứ thử đi xem. Nhớ lắm!
Hàng xóm rời đi, ông Sáu thấy vợ mình rơi vào khoảng lặng. Ông biết là bà đang mong nhớ tụi nhỏ, khi năm hết Tết đến cận kề. Thỉnh thoảng đang làm gì đó bà lại ngẩn người dặn ông mai đi chợ nhớ nhắc bà mua thứ này, thứ kia. “Món đó thằng cả thích mê” “Cái út nó có thể ăn cá kho tiêu vài bữa không biết chán. Ông nhớ không, hồi bé nó hóc xương cá tưởng không qua khỏi. Bà đâu biết lúc mình lấy tay áo lau vội nước mắt sau lưng ông thì vẫn không giấu nổi tụi nhỏ khoảnh khắc ấy. Bà cũng đâu biết rằng ở một thành phố xa, tim tụi nhỏ nhồi lên vì một niềm rưng rưng hạnh phúc. Ngoài kia, người ta hối hả, chen chúc ngược xuôi cũng đều để về nhà. Tui nhỏ thèm cuộc sum vầy này đã rất lâu. Bởi ngay từ lúc rời đi thật ra đã nghĩ đến trở về.
Lũ chim gáy trong lồng rạo rực không ngủ được vì nghe tiếng gáy của đồng loại ngoài bìa rừng vọng đến. Chúng như nhắc ông Sáu nhớ ra sắp đến mùa sinh sản của chim cu gáy. Giờ là lúc chúng tìm nhau để kết đôi chồng vợ. Qua ánh đèn pin, những đôi mắt chim cu tròn xoe nhìn ông như tha thiết cầu xin. Cũng phải thôi, con người có đôi thì lũ chim cũng vậy. Lật đật mở cửa từng chiếc lồng, trên tay ông còn sót lại vài chiếc lông nhẹ bẫng. Đêm mùa xuân tĩnh lặng, ông chỉ còn nghe thấy tiếng vỗ cánh tự do mang âm hưởng sum vầy…
(Trích Tiếng của sum vầy, Vũ Thị Huyền Trang, https://vanvn.vn/tieng-cua-sum-vay-truyen-ngan-cua-vu-thi-huyen-trang/)

Bài làm Phân tích văn bản Tiếng của sum vầy của Vũ Thị Huyền Trang
A. Yêu cầu
– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.
– Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Tiếng của sum vầy” của Vũ Thị Huyền Trang.
– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.
B. Hướng dẫn gợi ý
* Mở bài:
– Giới thiệu tác giả: Vũ Thị Huyền Trang là cây bút trẻ với những sáng tác giàu cảm xúc, phản ánh đời sống đương đại.
– Giới thiệu tác phẩm: Tiếng của sum vầy – truyện ngắn tiêu biểu viết về gia đình, hạnh phúc và nỗi khao khát đoàn tụ.
– Dẫn dắt vấn đề: Đoạn trích thể hiện rõ tâm trạng, tình cảm và khát vọng sum họp gia đình qua nhân vật ông Sáu và người vợ, đồng thời gửi gắm những suy tư về giá trị của mái ấm.
Trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại, nhiều cây bút trẻ hướng về đề tài gia đình để khám phá những giá trị tinh thần, tình cảm sâu sắc. Truyện ngắn Tiếng của sum vầy của Vũ Thị Huyền Trang là một trong số đó. Qua hình ảnh nhân vật ông Sáu trong đoạn trích, tác giả không chỉ phản ánh những đổi thay của đời sống hiện nay mà còn khơi dậy trong lòng người đọc niềm trân trọng, yêu thương đối với mái ấm gia đình, với những mối quan hệ gắn bó thân thương.
* Thân bài:
1. Khái quát nội dung đoạn trích
– Hoàn cảnh gia đình ông Sáu: vợ đi xuất khẩu lao động hơn 20 năm, con cái xa quê, ông ở nhà một mình, cô quạnh.
– Biến cố: vợ trở về đúng dịp Tết, mang đến hơi ấm, niềm vui cho căn nhà.
– Cao trào: cảnh ông Sáu thả chim cu gáy – biểu tượng cho khát vọng tự do, sum vầy, đoàn tụ.
2. Phân tích nhân vật và chi tiết nghệ thuật
a. Nhân vật ông Sáu
– Hình ảnh một người đàn ông cô đơn, lam lũ, từng sa vào rượu chè nhưng trong sâu thẳm vẫn khao khát hạnh phúc gia đình.
– Tâm trạng nôn nao nhớ lại kỷ niệm ngày cưới, xót xa vì nhiều cái Tết vắng thiếu sum họp.
– Khi vợ trở về: xúc động, ấm áp, trân trọng sự có mặt của bà, người mang lại sức sống cho mái ấm.
– Hành động thả chim: giàu tính biểu tượng, cho thấy ông đồng cảm với tự nhiên và gửi gắm khát vọng sum vầy, đoàn tụ.
b. Nhân vật người vợ
– Người phụ nữ đảm đang, tháo vát, “đi đến đâu là nhà cửa sạch sẽ, chăn màn thơm tho, bếp ấm lửa”.
– Ẩn chứa nỗi nhớ thương con, khao khát được sum họp cùng gia đình.
– Qua nhân vật, tác giả khắc họa hình ảnh người phụ nữ Việt giàu đức hy sinh, gắn bó bền chặt với mái ấm.
3. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật
– Nội dung:
+ Ca ngợi tình cảm gia đình thiêng liêng, bền chặt.
+ Phản ánh hiện thực xa cách trong nhiều gia đình hiện nay, khi người thân đi làm ăn xa.
+ Đề cao giá trị của sự đoàn tụ, sum vầy – hạnh phúc giản dị nhưng sâu xa.
– Nghệ thuật:
+ Ngôn ngữ giàu chất đời thường, gần gũi mà gợi cảm.
+ Hình ảnh biểu tượng: chim cu gáy, bếp lửa, bánh chưng, camera… tạo nhiều tầng ý nghĩa.
+ Lối kể chuyện xen kẽ hiện tại – hồi ức, kết hợp miêu tả tâm lí tinh tế.
* Kết bài:
– Khẳng định lại ý nghĩa của đoạn trích: Tiếng của sum vầy không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình mà còn là bản nhạc chung của biết bao mái ấm trong xã hội hiện đại.
– Liên hệ bản thân: Mỗi người cần trân trọng, giữ gìn mái ấm, bởi sum vầy gia đình là nguồn cội của hạnh phúc và sức mạnh tinh thần.
Tác phẩm Tiếng của sum vầy không chỉ kể câu chuyện của một gia đình mà còn vang lên như tiếng lòng chung của nhiều mái ấm Việt Nam hôm nay. Tác phẩm nhắc nhở mỗi người biết trân trọng tình thân, gìn giữ hạnh phúc gia đình, nơi chứa đựng yêu thương, an yên và luôn là điểm tựa để trở về sau những khó khăn, bộn bề của cuộc sống.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
