Đề bài: Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Thăng Long kỳ 1:
Thăng Long kỳ 1
Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng,
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.
Thiên niên cự thất thành quan đạo,
Nhất phiến tân thành một cố cung.
Tương thức mỹ nhân khan bão tử,
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ,
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.
Dịch nghĩa:
Núi Tản sông Lô bao nhiêu năm vẫn thế
Đầu đã bạc rồi mà lại thấy Thăng Long
Những ngôi nhà đồ sộ ngày xưa nay đã thành đường cái quan.
Dãi thành mới làm mất cung điện xưa
Các mỹ nhân ngày trước giờ đã có con bồng
Các bạn hào hiệp thuở xưa giờ đã thành ông
Suốt đêm nghĩ ngơi, thao thức không ngủ
Văng vẳng nghe tiếng sáo trong ánh trăng
Bản dịch của Quách Tấn
Núi Tản sông Lô vẫn núi sông
Bạc đầu còn được thấy Thăng Long
Nghìn năm cự thất thành quan lộ
Một giải tân thành lấp cố cung
Người đẹp buổi xưa đều bế trẻ
Bạn chơi thưở nhỏ thảy thành ông
Thâu đêm chẳng ngủ lòng thêm bận
Địch thổi trăng trong tiếng não nùng
(Nguồn dẫn: Quách Tấn)

Bài làm Phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Thăng Long kỳ 1
1. Mở bài:
– Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc là danh nhân văn hóa thế giới, là nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ trung đại Việt Nam. Ông để lại cho đời số lượng lớn bài thơ trong đó có những sáng tác đạt đến trình độ cổ điển và mẫu mực.
– Thơ Nguyễn Du chưng cất được các loại biểu tượng khác nhau về Thăng Long – môi trường văn hóa mà ông đã tiếp nhận sâu nặng từ trong thực tế trải nghiệm của bản thân. Thăng Long kì 1 là một trong hai bài thơ thể hiện nỗi quan hoài của ông về thời cuộc.
Thăng Long không chỉ là trung tâm chính trị, văn hóa của đất nước mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca Việt Nam. Trong mạch nguồn ấy, bài thơ “Thăng Long kỳ 1” đã để lại dấu ấn sâu đậm khi khắc họa nỗi niềm bâng khuâng của tác giả trước sự đổi thay của kinh thành xưa. Với giọng điệu hoài niệm xen lẫn trăn trở, tác phẩm không chỉ gợi lên hình ảnh Thăng Long biến thiên qua thời gian mà còn thể hiện tâm sự đầy cảm khái của một người từng gắn bó sâu nặng với nơi đây.
2. Thân bài:
* Nhan đề
Thăng Long là nơi Nguyễn Du sinh ra và lớn lên nhưng ông đã phải dời ra kinh thành trong suốt nhiều năm trời. Thăng Long đã trở thành một miền nhớ trong kí ức của nhà thơ. Đặc biệt, Nguyễn Du còn có một mảng thơ khá phong phú viết về đề tài “Thăng Long một thuở”, tiêu biểu như: Long thành cầm giả ca, Ngô gia Đệ cựu ca cơ, Ngẫu hứng V, Mộng đắc Thái liên, Điểu La Thành ca giả. Ở những bài này, ta thấy thấp thoáng hình ảnh Thăng Long xưa, dưới thời phong kiến, như một xã hội thị dân trải nhiều biến cố.
* Khái quát cấu tứ, phân tích và đánh giá tình cảm qua từng phần của bài thơ
– Khái quát cấu tứ của bài thơ
Vần là cái tứ “hồi cố” quen thuộc trong thơ ca trung đại, nhưng “Thăng Long kì 1” của Nguyễn Du có nét riêng bởi nó bao hàm cả chính kiến về thời cuộc. Sự hòa quyện giữa nỗi nhớ về vùng đất mà mình từng gắn bó với cảm thức về sự biến thiên dâu bể của đời người đã tạo nên nỗi u hoài trong thơ Nguyễn Du. Nguyễn Du thường nói đến Thăng Long như một địa điểm khởi phát, nơi bắt đầu cuộc hành trình “mười năm gió bụi” của ông: “ cho nên có thể nói Thăng Long trong nỗi nhớ của ông trở thành một mốc lớn đánh dấu sự đổi thay của cả một thân phận. Trên thực tế Nguyễn Dũ còn nhiều dịp trở lại Thăng Long nhưng tâm thế của cậu Chiêu Bảy con quan Tể tướng không bao giờ còn có nữa, và vẻ đẹp hoa lệ quyến người của nơi ngày xưa cậu Chiêu đắm mình trong đó như cá bơi trong nước cũng không bao giờ còn nữa.
Bài thơ được làm vào khoảng năm năm 1813, khi Nguyễn Du trở lại Thăng Long trong vai một vị Chánh sứ, trước khi đi sang Trung Quốc. Có thể thấy Nguyễn Du đã thật sự huy động được bao nhiêu kỷ niệm dồn nén để trở về đối diện với một Thăng Long hiện thực trong thơ mình. Quả là lúc bấy giờ nhà thơ đã xa cách Thăng Long đến mười một năm có lẻ. Thăng Long trong ý niệm của ông không còn là một địa danh có thể với tới, nó đã tách ra
– Phân tích, cảm nhận qua từng phần của bài thơ
+ Hai câu đầu: Gợi hoàn cảnh nảy sinh tâm trạng. Nhà thơ nhắc về thời điểm trở lại Thăng Long khi mình đã trải qua những thăng trầm của cuộc đời.
Tản lĩnh, Lô giang tuế tuế đồng,
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.
(Núi Tản, sông Lô vẫn núi sông,
Bạc đầu còn được thấy Thăng Long)
+ Hai câu luận: Hướng về sự thay đổi của cảnh vật
Nhà thơ chọn một điểm nhấn về cái cảm giác bất nhất giữa hai không gian tâm lý đang xung đột trong ông. Không gian vũ trụ và không gian lịch sử thì vẫn thế, Thăng Long vẫn là Thăng Long xưa, núi sông hùng vĩ y nguyên không có gì khác; thế nhưng cứ nhìn vào đâu cũng thấy lạ, bởi không gian chính trị – xã hội đã hoàn toàn khác trước: phố phường tồn tại hàng nghìn năm nay là con đường quốc lộ, còn cung điện vua Lê chúa Trịnh thì một tòa thành của triều đại mới đã mọc lên. Rất kín đáo, Nguyễn Du hé lộ trái tim rướm máu của mình:
Thiên niên cự thất thành quan đạo,
Nhất phiến tân thành một cố cung.
Nghìn năm dinh thự thành quan lộ,
Một dải tân thành lấp cố cung)
+ Hai câu luận: Nhấn mạnh sự thay đổi của con người
Cùng với sự thay đổi của không gian, thời gian cũng khía những mũi dao tàn nhẫn. Người đẹp quen biết nhau thuở nào thì đã “tay bồng tay bế”, bạn bè cùng vui chơi lúc trẻ đã già lão hết cả. Trở lại Thăng Long những tưởng sẽ hòa nhập lại vào thế giới thân thuộc cũ nhưng rốt cuộc nhà thơ vẫn chỉ “một mình”:
Tương thức mỹ nhân khan bão tử,
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.
(Người đẹp thuở xưa nay bế trẻ,
Bạn chơi thuở nhỏ thảy thành ông).
+ Hai câu kết: Tâm sự thời thế và vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Về gặp lại Thăng Long, nhà thơ mừng lắm, “Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long”, mừng như được trở về nhà mình. Nhưng cảnh xưa người cũ đổi thay, ông trở thành người xa lạ, cô đơn, buồn bã “suốt đêm không ngủ được” trằn trọc với “tiếng sáo từng hồi văng vẳng dưới ánh trăng”. Tâm trạng của ông có nét giống tâm trạng của kẻ “thất cước, thất căn” trong bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương.
Thăng Long trong tâm giới Nguyễn Du là như vậy. Và sau bao năm tháng phiêu bồng, với mái đầu bạc trắng, ông trở về soi vào những dáng nét còn sót lại của Thăng Long, trong thực tại và trong tâm tưởng, chợt thấy mình như người có tội!
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy,
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.
Thâu đêm chẳng ngủ lòng thêm bận,
Địch thổi trăng trong tiếng não nùng)
Qua tâm trạng ngậm ngùi của người trở về chốn cũ mà không còn nhận diện ra “cố nhân”, bài thơ Thăng Long cho thấy sự mất mát về phía Nguyễn Du trong ngày hội ngộ là một gánh nặng quá tải. Nhưng còn ghi ngờ gì nữa, “ánh trăng xưa soi trên tòa thành mới”, “những đường ngõ mở thông ra bốn phía”, “tiếng đàn sáo có xen những âm thanh lạ tai”… đấy đều là dấu hiệu mỉa mai của một thăng Long đã bị thời gian “lạ hóa”. Âm điệu buồn bã, nhuốm màu hoài cổ của bài thơ khiến người nghe càng thêm thấm thía những lý lẽ khắc nghiệt mà cuộc sống dạy cho tác giả, những chân lý đắng cay về một cái gì không thể làm lại, không thể đi lại con đường đã đi. Bên cạnh đó, còn có dư vị ngậm ngùi của một chiêm nghiệm từ khách thể chuyển vào chủ thể. Vì thế, trong bài Thăng Long kì 2, ông viết “Thôi đừng than thở chuyện đời chìm nổi / Mái tóc mình cũng đã bạc lốm đốm”. Rõ ràng, nỗi đau của nhà thơ da diết sâu sắc hơn khi ông nhận ra mình giữa dòng chảy cuộc đời. Thăng Long và ông, đôi bạn cố tri đã thành những người không quen biết.
* Nghệ thuật (Thể thơ, từ ngữ, BPTT…)
Bài thơ có kết cấu độc đáo. Tác giả vận dụng nghệ thuật đối tài tình cho thấy sự đổi thay của nhiều yếu tố song chỉ có tình yêu quê hương của tác giả là không đổi. Ngôn ngữ dồn nén, giàu sức biểu cảm.
Với lớp ngôn từ vừa tha thiết vừa ngậm ngùi, buồn bã đã cho thấy tình yêu quê hương, tình yêu nước tha thiết, sâu nặng của tác giả
* Đánh giá chung nội dung và nghệ thuật
Trước Nguyễn Du đã có nhiều tác giả viết hay về Thăng Long như: Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Giản Thanh, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Huy Lượng, Phạm Thái, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Bà Huyện Thanh Quan…. Có điều, với ngòi bút tài hoa, Nguyễn Du đã vẽ lên được một Thăng Long vừa hiện thực, cụ thể, vừa giàu chất trữ tình, với một nỗi đau nhân tình thế thái. Qua đó, ông đã khái quát lên một Thăng Long thăng trầm, dâu bể; một Thăng Long với những phận người chìm nổi. Và hơn hết là một Thăng Long kí ức thời niên thiếu của riêng ông
3. Kết bài: Khẳng định lại sự độc đáo của bài thơ và ý nghĩa cúa nó đối với việc đem lại cách nhìn mới, cách đọc mới cho độc giả.
Cũng như nhiều sáng tác khác của Nhà thơ Nguyễn Du, trong tác phẩm “Thăng Long kỳ 1”, cảm thức bơ vơ và hoài niệm luôn song hành, soi chiếu và làm đậm nét cho nhau. Giống như Chateaubriand – nhà văn Pháp cuối đời chìm đắm trong quá khứ để tìm lại những giá trị đã mất. Và nhà thơ Nguyễn Du cũng không nguôi ngoai nỗi nhớ về những gì từng gắn bó. Ông không thể nắm giữ chúng, nhưng cũng chẳng thể dứt bỏ, để rồi sự hoài niệm ấy càng làm nổi bật tình cảnh cô đơn, trống trải của chính mình trước dòng chảy hiện tại.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
