Đề bài: Viết đoạn văn Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Với sông Hồng của Trương Nam Hương.
Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi
Phù sa đỏ như miếng trầu mẹ quệt
Ăn hạt gạo mãi giờ con mới biết
Có sông và đời mẹ ở bên trong.
Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Với sông Hồng của Trương Nam Hương – Mẫu 1
Khổ thơ cuối bài Với sông Hồng của Trương Nam Hương mang đến một dư âm trầm lắng, xúc động khi khắc họa hình ảnh người mẹ gắn bó cả cuộc đời với dòng sông quê. Sông Hồng trong đoạn thơ không còn đơn thuần là cảnh sắc thiên nhiên mà đã trở thành người bạn chứng kiến mọi nhọc nhằn, hi sinh thầm lặng của mẹ. Câu thơ “thương mẹ hát đơn côi” sử dụng phép nhân hóa tinh tế, gợi lên dáng vẻ lặng lẽ, cô đơn của người mẹ giữa dòng đời vất vả. Hình ảnh phù sa đỏ được ví với “miếng trầu mẹ quệt” mang đậm hơi thở văn hóa truyền thống, vừa gần gũi, mộc mạc, vừa làm nổi bật nét đẹp cần cù, bền bỉ của người mẹ Việt Nam. Đáng chú ý hơn cả là sự thức tỉnh muộn màng của người con: chỉ khi đã lớn lên, từng trải, con mới thấu hiểu giá trị của hạt gạo, của lao động nhọc nhằn và những hi sinh không lời của mẹ. Bằng hệ thống hình ảnh giản dị mà giàu ý nghĩa biểu tượng, kết hợp các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, giọng điệu trữ tình sâu lắng và ngôn ngữ cô đọng, khổ thơ đã khẳng định một chân lí thiêng liêng: trong dòng sông quê hương có bóng dáng cả cuộc đời mẹ, và trong mẹ kết tinh hồn cốt của quê hương, đất nước. Qua đó, bài thơ không chỉ ngợi ca người mẹ mà còn khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu, sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với cội nguồn.
Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Với sông Hồng của Trương Nam Hương – Mẫu 2
Khổ thơ cuối bài Với sông Hồng của Trương Nam Hương mang đến một dư âm trầm lắng, xúc động khi khắc họa hình ảnh người mẹ gắn bó cả cuộc đời với dòng sông quê. Sông Hồng trong đoạn thơ không còn đơn thuần là cảnh sắc thiên nhiên mà đã trở thành người bạn chứng kiến mọi nhọc nhằn, hi sinh thầm lặng của mẹ. Câu thơ “thương mẹ hát đơn côi” sử dụng phép nhân hóa tinh tế, gợi lên dáng vẻ lặng lẽ, cô đơn của người mẹ giữa dòng đời vất vả. Đó là người phụ nữ cả đời âm thầm lao động, chịu đựng bao gian truân mà không một lời than thở, để rồi chỉ dòng sông quê mới thấu hiểu và “thương” cho mẹ.
Hình ảnh “phù sa đỏ như miếng trầu mẹ quệt” là một so sánh giàu sức gợi, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống. Miếng trầu gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa, gợi sự tần tảo, nhẫn nại và bền bỉ. Phù sa sông Hồng không chỉ nuôi dưỡng ruộng đồng mà còn thấm vào cuộc đời mẹ, vào từng nhọc nhằn, từng giọt mồ hôi mặn chát. Qua hình ảnh ấy, người đọc cảm nhận rõ sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người, giữa dòng sông và số phận người mẹ, tạo nên vẻ đẹp vừa bình dị vừa thiêng liêng.
Đặc biệt xúc động là câu thơ “Ăn hạt gạo mãi giờ con mới biết”, thể hiện sự thức tỉnh muộn màng của người con. Khi còn nhỏ, con vô tư đón nhận những thành quả lao động mà chưa từng nghĩ đến nguồn gốc của hạt gạo, chưa thấu hiểu những vất vả mà mẹ đã trải qua. Chỉ đến khi trưởng thành, từng trải với cuộc sống, người con mới nhận ra giá trị của lao động, của những hi sinh lặng thầm phía sau bát cơm trắng. Sự nhận thức ấy mang theo nỗi ân hận xen lẫn biết ơn, khiến khổ thơ trở nên sâu lắng và giàu tính nhân văn.
Câu thơ cuối “Có sông và đời mẹ ở bên trong” đã khái quát trọn vẹn ý nghĩa của cả khổ thơ. Dòng sông không chỉ là không gian sống mà còn chứa đựng cả cuộc đời mẹ; trong hình bóng người mẹ lại kết tinh linh hồn của quê hương, đất nước. Bằng giọng điệu trữ tình sâu lắng, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, cùng các biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, Trương Nam Hương đã gửi gắm một chân lí giản dị nhưng thiêng liêng: quê hương được làm nên từ những con người bình thường, từ những hi sinh âm thầm của người mẹ. Khổ thơ vì thế không chỉ là lời ca ngợi mẹ mà còn đánh thức trong mỗi người đọc lòng biết ơn, sự trân trọng đối với mẹ, với quê hương và cội nguồn yêu dấu.
