Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu ghi lại cảm nghĩ của em sau khi đọc xong bài thơ Bến đò đêm trăng của Anh Thơ
BẾN ĐÒ ĐÊM TRĂNG
Mây tản mát ven trời trôi đón gió
Sao mơ hồ thưa bóng lẩn trong sương.
Sông lặng chảy một nguồn trăng sáng tỏ.
Bóng cô Hằng lơ lửng đứng soi gương.
Trên bến vắng chòm si ôm bực đá,
Bờ đê cao không một bóng in người,
Gió se sẽ bước vào thăm khóm lá
Trước quán hàng vắng lặng bóng trăng soi
Ngoài sông nước đó đây về chở gió
Thuyền lênh đênh trong lớp khói sương mù
Ngồi mơ mộng đầu thuyền cô lái nhỏ
Khua trăng vàng trong nhịp hát đò đưa.
(Anh Thơ, Bức tranh quê, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995, tr. 40)
Dàn ý Phân tích bài thơ Bến đò đêm trăng của nhà thơ Anh Thơ
I. Mở bài
-
Giới thiệu tác giả Anh Thơ: một gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi bật với những bài thơ viết về quê hương thôn dã, nhẹ nhàng mà sâu lắng.
-
Giới thiệu khái quát bài thơ “Bến đò đêm trăng”: bức tranh trữ tình tuyệt đẹp về một đêm trăng nơi bến đò quê, vừa bình yên, thanh khiết, vừa phảng phất nỗi buồn man mác.
-
Nhấn mạnh: Bài thơ như một khúc nhạc dịu dàng, khơi dậy tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương trong lòng người đọc.
II. Thân bài
1. Phân tích nội dung từng khổ thơ
a) Khổ 1: Không gian trên cao gợi vẻ đẹp thanh khiết, mộng mơ của đêm trăng
-
Thiên nhiên hiện lên với: mây tản mát, sao thưa, trăng lơ lửng, tạo cảm giác rộng rãi, cao xa, tinh khôi.
-
Ánh trăng soi mặt nước “tuôn vàng” làm dòng sông trở nên lung linh, huyền ảo.
-
Hình ảnh “cô Hằng” gợi yếu tố cổ tích, thần thoại, làm cho bức tranh đêm trăng thêm phần thiêng liêng, gợi liên tưởng xa xôi, mộng mị.
-
Cả khổ thơ toát lên vẻ đẹp thanh vắng mà không lạnh lẽo, đẹp mà cũng thấm nỗi buồn hiu quạnh.
b) Khổ 2: Không gian dưới thấp gợi bức tranh bến đò tĩnh lặng, cổ kính
-
“Chòm si ôm bực đá”, “bờ đê cao hoang vắng” vẽ nên nét rêu phong, trầm mặc.
-
Gió “se sẽ” khẽ lướt, lá thì “thao thức” sự dụng biện pháp nhân hóa làm cho thiên nhiên như có tâm trạng, hòa cùng mạch cảm xúc buồn man mác.
-
Ánh trăng len vào “quán nhỏ”, phủ kín không gian càng nhấn mạnh sự vắng lặng, cô tịch của bến đò đêm.
-
Cảnh vật có chuyển động nhẹ nhưng tất cả như đồng điệu trong nỗi yên lặng đến nao lòng.
c) Khổ 3: Hình ảnh con người xuất hiện là điểm nhấn dịu dàng, nên thơ
-
Hình ảnh “cô lái nhỏ” ngồi mơ mộng, cất tiếng hát đò đưa.
-
Dòng sông dường như cũng “lặng nghe” tiếng hát, cảnh và người hòa làm một.
-
Tiếng hát không phá vỡ không gian tĩnh lặng mà như ru thêm, khiến bức tranh đêm trăng càng đượm chất thơ, gợi sự an nhiên, đằm thắm.
-
Thuyền lênh đênh giữa sương khói càng làm cảnh đêm trở nên bồng bềnh, huyền diệu.
2. Chủ đề, ý nghĩa bài thơ
-
Ca ngợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh bình của cảnh đêm trăng nơi quê nhà.
-
Thể hiện mối giao hòa sâu sắc giữa thiên nhiên và con người: con người nhỏ bé mà trở thành điểm nhấn duyên dáng, làm thiên nhiên thêm thơ.
-
Gửi gắm niềm yêu thương tha thiết với quê hương, đồng thời khơi gợi cho người đọc những rung động tinh tế trước vẻ đẹp dung dị của cuộc sống.
3. Giá trị nghệ thuật
-
Hình ảnh thơ: giàu tính gợi cảm, chọn lựa từ ngữ tinh tế, làm nổi bật vẻ đẹp vừa thực vừa mơ.
-
Thủ pháp nhân hóa, ẩn dụ, so sánh: làm cho thiên nhiên có linh hồn, chia sẻ được nỗi lòng với con người.
-
Ngôn từ giản dị mà giàu nhạc tính, nhiều từ láy, từ gợi tả chuyển động nhẹ: tạo nên dòng chảy thơ dịu dàng, sâu lắng.
-
Nhịp điệu êm ái, thể thơ tám chữ: nhịp điệu ngân nga, dìu dặt như sóng nước sông quê, như tiếng hát đưa đò trong đêm.
III. Kết bài
-
Khẳng định: “Bến đò đêm trăng” là một bài thơ đặc sắc, thể hiện tài năng quan sát, tinh tế và hồn thơ tha thiết của Anh Thơ.
-
Bài thơ không chỉ dừng ở việc miêu tả cảnh đêm trăng đẹp mà còn khắc sâu tình yêu quê hương, đất nước, gieo vào lòng người đọc những rung cảm nhẹ nhàng, trong trẻo về cuộc sống thanh bình, yên ả.

Bài văn mẫu Phân tích bài thơ Bến đò đêm trăng của nhà thơ Anh Thơ
Bài thơ “Bến đò đêm trăng” của Anh Thơ tựa như một khúc nhạc trữ tình ngân lên giữa không gian tĩnh mịch của làng quê, vẽ ra bức tranh đêm trăng vừa huyền ảo, vừa đằm thắm, gợi biết bao dư vị bâng khuâng. Với lối miêu tả tinh tế, giàu chất nhạc và giàu cảm xúc, nhà thơ không chỉ làm sống dậy một cảnh vật yên ả, thấm đẫm ánh trăng mà còn khẽ khàng gửi gắm tình yêu tha thiết với thiên nhiên, với cuộc sống thôn dã dung dị mà sâu lắng. Đọc bài thơ, ta như được trở về một miền quê thanh bình, nơi mọi lo toan tạm lắng để tâm hồn được ru nhẹ trong hơi thở của đất trời.”
Ngay ở khổ thơ mở đầu, nhà thơ Anh Thơ đã khẽ mở cánh cửa dẫn người đọc bước vào một không gian trên cao mênh mang, thanh tĩnh:
Mây tản mát ven trời trôi đón gió
Sao mơ hồ thưa bóng lẩn trong sương.
Sông lặng chảy một nguồn trăng sáng tỏ.
Bóng cô Hằng lơ lửng đứng soi gương.
Hình ảnh “mây tản mát ven trời”, “sao thưa bóng”, “trăng sáng tỏ” soi xuống dòng sông gợi lên một vẻ đẹp thanh khiết, nhẹ nhàng của đêm trăng quê. Đặc biệt, câu thơ “Bóng cô Hằng lơ lửng đứng soi gương” đã khéo léo nhân hóa vầng trăng thành một cô gái e ấp, dịu dàng, như đang làm duyên trước mặt nước trong veo. Cảnh vật hiện lên vừa thực vừa ảo, thoát khỏi cõi đời thường mà trở thành một thế giới thần tiên, tinh khôi, khiến lòng người cũng thấy được gột rửa mọi bụi bặm. Ánh trăng như tắm mát không gian, phủ lên cảnh vật một vẻ huyền diệu, trong trẻo đến nao lòng. Qua đó, không chỉ thiên nhiên hiện ra mà còn hé lộ ánh mắt say mê, rung động và trân trọng của nhà thơ trước vẻ đẹp của tạo vật.
Từ không gian bồng bềnh trên cao, nhà thơ đưa người đọc trở về với mặt đất thân thuộc của làng quê, nơi có bến đò, bờ đê, chòm si già. Những hình ảnh tưởng chừng quá đỗi quen thuộc ấy lại được đặt vào một không gian tĩnh lặng đến nao lòng, khiến ta như nghe được cả bước chân gió đang khẽ khàng lướt qua.
“Trên bến vắng chòm si ôm bực đá,
Bờ đê cao không một bóng in người,
Gió se sẽ bước vào thăm khóm lá
Trước quán hàng vắng lặng bóng trăng soi.”
Những từ láy như “se sẽ”, cùng thủ pháp nhân hóa “gió bước vào thăm khóm lá”, “chòm si ôm bực đá” làm thiên nhiên như có linh hồn, như biết yêu thương, thủ thỉ cùng nhau trong đêm vắng. Bóng dáng con người hoàn toàn vắng bóng, chỉ còn lại cây cỏ, gió và trăng. Nhưng cái vắng lặng ấy lại không đem đến cảm giác hiu hắt hay lạnh lẽo. Ngược lại, nó càng làm nổi bật hơn vẻ thâm trầm, tình tứ của không gian làng quê, gợi nhớ những quán nhỏ ven đường mà dẫu vắng khách vẫn phảng phất hơi ấm của một cuộc sống bình dị, mộc mạc đang chầm chậm trôi.
Hiện lên giữa bức tranh thơ đậm chất trữ tình, không gian tĩnh lặng, huyền ảo ấy, hình ảnh cô lái đò nhỏ hiện lên thật duyên dáng, vừa thực vừa mơ:
“Ngồi mơ mộng đầu thuyền cô lái nhỏ
Khua trăng vàng trong nhịp hát đò đưa.”
Hình ảnh “cô lái nhỏ” ngồi mơ màng trên mũi thuyền gợi một nét đẹp e ấp, thôn dã mà cũng rất thơ. Tiếng hát đò đưa vang lên không xua tan cái tĩnh lặng, mà trái lại càng làm cho cảnh đêm thêm bâng khuâng, như lan rộng thành một giai điệu man mác chảy khắp không gian. Đặc biệt, câu thơ “Khua trăng vàng trong nhịp hát đò đưa” là một liên tưởng thật độc đáo: mái chèo khua nước mà dường như đang khua cả ánh trăng, làm trăng vỡ ra thành sóng lấp lánh, hòa cùng tiếng hát mà lan đi mãi. Hình ảnh ấy không chỉ giàu chất nhạc, chất họa mà còn thấm đẫm hồn quê, hồn người nơi con người chan hòa với thiên nhiên trong một sự giao cảm tinh tế, lặng thầm mà sâu sắc biết bao..
Bài thơ là một bức tranh đêm trăng quê hương chan chứa tình yêu và rung cảm. Nghệ thuật miêu tả của nhà thơ Anh Thơ vô cùng tinh tế. Tác giả đã sử dụng từ ngữ chọn lọc, nhiều từ láy êm dịu, nhân hóa tài tình khiến cây cỏ, gió trăng như có hồn. Bên cạnh đó, với thể thơ tám chữ với nhịp điệu lững thững, ngân nga như nhịp chèo khua nước, như tiếng hát đưa đò xa xăm. Tất cả hòa quyện, tạo nên một thế giới vừa bình yên, vừa mộng mị.
Khép lại bài thơ, “Bến đò đêm trăng” của Anh Thơ để lại trong lòng người đọc một bức tranh quê vừa tĩnh lặng, mơ hồ vừa chan chứa nhạc điệu và tình yêu tha thiết. Qua những hình ảnh tinh tế, những rung động nhẹ nhàng mà sâu thẳm, nhà thơ đã khơi dậy niềm yêu mến đối với cảnh sắc bình dị, hồn hậu của làng quê Việt Nam, để mỗi chúng ta càng thêm trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống thôn dã và nuôi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước muôn đời.
