Đề bài: Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích cấu tứ và hình ảnh của bài thơ Thái Bình mại ca giả (Nguyễn Du).
THÁI BÌNH MẠI CA GIẢ
Thái Bình cổ sư thô bố y,
Tiểu nhi khiên vãn hành giang mi.
Vân thị thành ngoại lão khất tử,
Mại ca khất tiền cung thần xuy.
Lân chu thời hữu hiếu âm giả,
Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ.
Thử thời thuyền trung ám vô đăng,
Khí phạn bát thuỷ thù lang tạ.
Mô sách dẫn thân hướng toạ ngung,
Tái tam cử thủ xưng đa tạ.
Thủ vãn huyền sách khẩu tác thanh,
Thả đàn thả ca vô tạm đình.
Thanh âm thù dị bất đắc biện,
Đãn giác liệu lượng thù khả thinh (thính).
Chu tử tả tự vị dư đạo,
Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành.
Quan giả thập số tịnh vô ngữ,
Đãn kiến giang phong tiêu tiêu giang nguyệt minh.
Khẩu phún bạch mạt, thủ toan súc,
Khước toạ, liễm huyền, cáo chung khúc.
Đàn tận tâm lực cơ nhất canh,
Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục.
Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai,
Do thả hồi cố đảo đa phúc.
Ngã sạ kiến chi, bi thả tân,
Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần.
Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn bão,
Trung Hoa diệc hữu như thử nhân.
Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ,
Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ.
Hành nhân bão thực tiện khí dư,
Tàn hào lãnh phạn trầm giang để.Dịch nghĩa
Ở phủ Thái Bình có người mù mặc áo vải thô
Có đứa trẻ dẫn đi bờ sông
Nói rằng ông già ăn xin ở ngoài thành
Hát mướn xin tiền nấu ăn
Thuyền bên có người ưa nghe hát
Cầm tay dẫn xuống thuyền dưới cửa sổ
Lúc này trong thuyền tối không đèn
Cơm thừa canh cặn đổ bừa bãi
Ông già lần mò ngồi vào một góc
Hai ba lần giơ tay xin cám ơn
Tay nắn dây đàn, miệng cất tiếng hát
Vừa đàn vừa ca không nghỉ
Tiếng nghe lạ hoắc không hiểu được
Chỉ thấy như chim hót trong trẻo tai dễ nghe
Nhà thuyền viết chữ bảo ta rằng:
Khúc hát này nói về Thế Dân và Kiến Thành
Người nghe khoảng chục người đều im lặng
Chỉ thấy gió sông vi vu dưới trăng sáng
Miệng sùi nước bọt, tay mỏi rã rời
Ngồi xuống, xếp đàn, nói rằng hát đã xong
Hết lòng hết sức đàn gần một trống canh
Văy mà chỉ đuợc năm sáu đòng
Đứa em dẫn ra khỏi thuyền
Còn quay đầu lại chúc lành
Chợt thấy ta bồi hồi thương xót
Phàm nguuời ta thà chết hơn sống nghèo
Nghe nói ở Trung Hoa mọi người đều được ấm no
Ở Trung Hoa cũng có người nghèo như thế sao
Anh không thấy lệ cung phụng thuyền đi sứ mỗi ngày
Từng thuyền từng thuyền thịt gạo đày
Người đi thuyền ăn no, thừa vứt bỏ
Cơm nguội, thức ăn đổ chìm xuống đáy sông
Dịch thơ
(1) Ở phủ Thái Bình[1] có ông lão,
Hai mắt mù mặc áo vải thô.
Nắm tay trẻ dắt ngoại ô,
Ven sông hát dạo lần mò kiếm ăn.
Thuyền bên có kẻ ham nghe hát,
Dẫn ông già xuống sát cửa thuyền.
Lúc này thuyền tối không đèn,
Cơm thừa canh cặn đổ tràn tứ tung.
Lò dò vô trong cùng, một góc,
Hai ba lần lóc ngóc cám ơn.
Miệng ca, tay nắn dây đàn,
Một hơi đàn hát chẳng lần nghỉ ngơi.
Thanh âm lạ, lẽ lời không hiểu
Lắng nghe ra thì điệu cũng hay
Nhà thuyền viết chữ: “khúc này”
“Thế Dân tranh đoạt quyền oai Kiến Thành”
(2) Chục người xem mà đành phăng phắc,
Gió ru trăng vằng vặc trên sông.
Miệng sùi, tay mỏi lão ông,
Cất đàn, ngồi lại, thưa rằng đã xong.
Gần một canh, hết lòng hết sức,
Năm sáu đồng kiếm được thế thôi.
Ðứa em dẫn khỏi thuyền rồi,
Còn quay đầu lại gửi lời chúc may.
Chợt nhìn thấy cảnh này đau xót,
Phàm người ta chết tốt hơn nghèo.
Trung Hoa no ấm, nghe nhiều,
Trung Hoa cũng có người nghèo thế ư?
Kìa không thấy sứ từ xa lại,
Gạo thịt đầy thuyền cái thuyền con.
Người ăn no ứ vẫn còn,
Ðáy sông cơm ngọt món ngon đổ chìm.
(Trích Thái Bình mại ca giả – Nguyễn Du, Đặng Thế Kiệt dịch, in trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1978)
(*) Bài thơ Thái Bình mại ca giả – Người hát rong ở Thái Bình được Nguyễn Du sáng tác khi ông đang dẫn đầu phái đoàn đi sứ sang Trung Quốc từ năm 1813 đến năm 1814.

1. Mở bài:
– Giới thiệu chung về bài thơ: “Thái Bình mại ca giả” là bài thơ bằng chữ Hán viết về những điều mắt thấy tai nghe trong đợt tác giả đi sứ sang Trung Quốc. Bài thơ chứa đựng những giá trị tư tưởng sâu sắc, qua đó cho thấy được tấm lòng nhân đạo cao đẹp của Nguyễn Du.
– Xác định vấn đề sẽ được tập trung bàn luận trong bài viết: Thi phẩm sống mãi trong lòng người yêu văn chương không chỉ bởi sự nặng tình với đời, với người của Nguyễn Du mà còn bởi cấu tứ, hình ảnh độc đáo.
Bielinxki từng khẳng định: “Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào sở dĩ họ vĩ đại vì những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội”. Quả vậy, văn chương chỉ thật sự có sức sống khi nó bắt rễ từ đời sống, chắt lọc những vui buồn, khổ đau của con người. Nguyễn Du – bậc đại thi hào dân tộc đã để lại cho kho tàng văn học trung đại Việt Nam nhiều tác phẩm thấm đẫm tình đời và nỗi đau nhân thế. Đọc Thái Bình mại ca giả, ta bắt gặp một tâm hồn lớn luôn trăn trở về cuộc sống, nhìn thấu sự mục ruỗng, bất công trong xã hội, đồng thời xót thương cho những kiếp người cơ cực. Thi phẩm không chỉ gây ấn tượng bởi chiều sâu nhân đạo mà còn đặc sắc ở cấu tứ chặt chẽ, hình ảnh giàu sức gợi, làm nên vẻ đẹp nghệ thuật và giá trị tư tưởng bền lâu.
2. Thân bài:
* Nhan đề: “Thái Bình mại ca giả”- người hát rong ở đất Thái Bình, nhan đề gợi cho người đọc sự tò mò về kiếp người ở đất Thái Bình
* Khái quát cấu tứ, phân tích và đánh giá tình cảm qua từng phần của bài thơ
– Cấu tứ bài thơ được hình thành từ những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Từ câu chuyện về người hát rong, nhìn thấu hiện thực xã hội Trung Hoa, cảm xúc của nhà thơ được đánh thức.
– Bài thơ sử dụng hình thức cấu tứ gập đôi: Tác giả vẽ lên hai bức tranh tương phản đối lập nhau gay gắt, một bên là cuộc sống nghèo khổ, vất vả của ông lão hát rong mù lòa ; một bên là tầng lớp giàu có, quan lại, sứ giả no đủ, ê hề. Qua đó, Nguyễn Du đã bày tỏ thái độ thương cảm, đau xót đối với ông cháu người xẩm mù nói riêng và những kiếp người cơ cực nói chung; đồng thời tỏ thái độ phê phán, phẫn nộ trước sự vô cảm, tàn nhẫn, xa hoa lãng phí của bọn người giàu có. Không chỉ vậy ta còn thấy được tấm lòng nhân đạo rộng lớn của Nguyễn Du: ông không chỉ nói về một xã hội cụ thể với những con người cụ thể, mà đó là tấm lòng đối với con người, đối với mọi xã hội nói chung.
* Hình ảnh, chi tiết
– Hình ảnh hai ông cháu hát xẩm:
+ Đó là một ông lão mù, nghèo khổ (mặc áo vải thô), vất vả mưu sinh (Ven sông hát dạo lần mò kiếm ăn).
+ Cách hành xử của ông lão cũng thật tội nghiệp: khi được người ta thuê hát, ông bày tỏ lòng cảm ơn một cách tha thiết. Đối với ông, được người ta thuê hát chính là được ban ơn, để có cái ăn mà sống qua ngày. Khi rời khỏi thuyền, ông còn không quên gửi lời chúc may tới người thuê hát.
+Dù tuổi cao sức tàn, đói khổ, ông vẫn phải làm việc một cách vất vả: suốt một canh hết lòng hết sức đàn hát để mua vui cho người khác.
Nhà thơ cảm nhận tiếng đàn của người hát rong không chỉ bằng tai mà còn bằng tất cả giác quan nên tác giả không khỏi xót xa khi phải chứng kiến dáng điệu của ông lão khi ông mò mẫm trong bóng tối, “sờ soạng” để tìm chỗ ngồi, khi “vừa múa vừa hát không ngừng nghỉ”. Rồi lại “hai ba lần giơ tay lên thi lễ tạ ơn”, lúc ra khỏi thuyền rồi hãy còn “quay đầu lại chúc đa phúc”. Tiếng đàn và dáng diệu đáng thương của ông lão đã mãi ở lại trong lòng ông Chánh sứ đa cảm đất Việt. Không chỉ đơn giản là mô tả cảnh ngộ đáng thương của ông lão mù đất Thái Bình, ngòi bút chân tình và nồng thắm của nhà thơ còn khơi sâu được các mặt mâu thuẫn trong đời sống, và biết làm cho những mâu thuẫn ấy hiện ra nhức nhối.
– Hình ảnh tầng lớp giàu có:
+ Trong khi ông lão xẩm mù phải sống cuộc sống vất vả mưu sinh, đàn hát hết hơi để kiếm được miếng ăn thì cuộc sống của bọn giàu có thật thừa mứa, xa hoa, lãng phí:
+ Đó là hình ảnh “cơm thừa canh cặn đổ tràn tứ tung” trên chiếc thuyền mà ông lão bước lên.
+ Đó là hình ảnh Người ăn no ứ vẫn còn/ Ðáy sông cơm ngọt món ngon đổ chìm trên chiếc thuyền của sứ từ xa lại. Quả là người ăn không hết, kẻ lần không ra, một thực trạng thật đau xót, ai oán.
Những hình ảnh được vẽ nên như tạc khắc khi nhà thơ nhẹ nhàng đem đặt vào bên cạnh cảnh ngộ đáng thương của người hát rong mù một cảnh sống khác hẳn, cảnh sống xa hoa thừa thãi “Cơm thừa canh cặn đổ tràn tứ tung” của những người trong thuyền. Hoặc là “lệ cung đốn” của đoàn sứ bộ: Thuyền này thuyền nọ đều đầy gạo thịt/ Người trong đoàn sứ ăn no còn thừa thì vứt/ Cơm nguội, thức ăn thừa đổ xuống đáy sông… . Đúng là “ Người ăn không hết, kẻ lần không ra”. Bấy nhiêu chi tiết tương phản đã chứa đựng một dấu hỏi đau đớn, thâm trầm, một dụng ý tố cáo tinh tế mà sâu sắc. Một khung cảnh trái ngược đã tạo nên nhiều khoảng lặng in dấu đặc biệt khiến người đọc không khỏi xót xa, thương cảm
* Nghệ thuật (Thể thơ, từ ngữ, BPTT…)
– Nguyễn Du đã sử dụng thể thơ thất ngôn – thể thơ đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp thi ca của tác giả .
– Nhà thơ ghi lại nhiều chi tiết hiện thực cụ thể qua đó gửi gắm cảm xúc ý nghĩ của mình trước những điều trông thấy nơi đất khách quê người. Nguyễn Du đã kể lại những điều trông thấy ở xứ người mà cứ như là ở làng quê Việt Nam thời bấy giờ. Thơ đến một cách tự nhiên, không tiểu xảo, không mĩ từ, thơ xúc động dữ dội người đọc bằng chính những điều trông thấy thông qua nghệ thuật đối lập tương phản. Có lẽ vì thế mà thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã chiếm một vị trí quan trọng trong dòng chảy văn học dân tộc.
* Đánh giá chung nội dung và nghệ thuật
Với bài “Thái Bình mại ca giả”, thơ Nguyễn Du không những mênh mông về chữ nghĩa, về bố cục tinh tế mà còn rất lung linh đa dạng về ý tưởng trong dòng thơ tự sự sở trường của ông. Ngòi bút tả thực trong miêu tả, tự sự kết hợp với biểu lộ cảm xúc trực tiếp, đã tạo nên giá trị nhân bản của áng thơ này. Có thể nói, Nguyễn Du là nhà thơ trung đại Việt Nam viết về nỗi đau khổ của nhân dân một cách sâu sắc nhất, cảm động nhất.
3. Kết bài: Khẳng định lại sự độc đáo của bài thơ và ý nghĩa cúa nó đối với việc đem lại cách nhìn mới, cách đọc mới cho độc giả.
Tác phẩm“Thái bình mại ca giả có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du. Thi phẩm đã biểu hiện một cách sâu sắc tinh thần nhân đạo cao quý của đại thi hào. Tấm lòng của nhà thơ luôn hướng về những người nghèo khổ bất hạnh, bất kể đó là người Việt Nam hay người Trung Quốc vì thế tình cảm thương yêu của ông đã vươn đến tầm nhân loại. Cũng nhờ vậy,“Thái bình mại ca giả” đã trở thành tác phẩm nghệ thuật “nằm ngoài quy luật của băng hoại, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”- Sê đrin.
Có thể nói, Thái Bình mại ca giả không chỉ là một thi phẩm giàu giá trị hiện thực mà còn là tiếng lòng chan chứa nhân đạo của nhà thơ Nguyễn Du. Qua từng câu chữ, ta nhận thấy rõ một tấm lòng luôn đồng cảm, xót thương với những phận đời cơ cực, vượt qua mọi ranh giới dân tộc để hướng tới tình yêu thương con người ở tầm nhân loại. Chính tình cảm nhân văn ấy, cùng nghệ thuật độc đáo trong cấu tứ và hình ảnh, đã làm nên sức sống lâu bền cho tác phẩm. Đúng như Sê-đrin từng khẳng định: “Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của băng hoại, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”, Thái Bình mại ca giả đã trở thành một đóa hoa bất tử trong vườn văn học của Nguyễn Du và của cả dân tộc.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
