Phân tích bài thơ Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn của Nguyễn Đình Cường

Bình chọn

Đề bài: Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn của Nguyễn Đình Cường.

CẠNH MẸ CHA TA LẠI ĐƯỢC VUÔNG TRÒN

(Nguyễn Đình Cường)

Lúc lên đường con hứa với mẹ cha
Nước thống nhất con về xây tổ ấm
Vợ của con phải như là cô tấm
Ông bà vui khi có cháu bế bồng!

Mẹ cha chờ nay tóc bạc, răng long
Con mãi miết chỗ trạm dừng, ngọn suối?
Nơi rừng sâu sốt rét thừa, thiếu muối?
Sợ bạn buồn sao không dám chia tay?

Mẹ nằm mơ giữa giấc ngủ ban ngày
Con vẫn trẻ tuổi đôi mươi phơi phới
Rồi như thể cha vẫn ngồi chờ đợi
Bữa cơm trưa sau những buổi cày, bừa

Việc của trời chỉ có nắng và mưa
Người già cả đủ thứ lo mà tội
Mắt mẹ cha đã mờ nhìn không nổi
Khi con về đâu thấy rõ mặt con!

Ngồi chờ mong thân ngày một héo mòn
Cứ sớm tối xoa sờn mờ di ảnh
Nhưng niềm tin đã hết dần lấp lánh
Theo mẹ cha đi về chỗ con nằm

Cõi niết bàn ở nơi đó xa xăm
Con về cạnh bên đài sen – Mẹ đón!
Vẫn cưng con như những ngày đỏ hỏn
Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn!

(https://baodaknong.vn 16/01/2023)

Phân tích bài thơ Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn của Nguyễn Đình Cường

Bài làm Phân tích bài thơ Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn của Nguyễn Đình Cường

I. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về đề tài hậu phương, tình cảm gia đình trong thơ ca kháng chiến.

– Giới thiệu bài thơ Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn của Nguyễn Đình Cường – một tiếng lòng đầy xúc động thể hiện tình yêu thương bền bỉ của cha mẹ dành cho người con đi chiến đấu.

– Nêu khái quát vấn đề nghị luận: bài thơ là một bản tình ca đau đáu về cha mẹ – những người suốt đời chờ đợi con trong chiến tranh.

Trong dòng thơ viết về chiến tranh cách mạng, bên cạnh những vần thơ ca ngợi tinh thần chiến đấu kiên cường, vẫn có những khúc lặng đầy xúc cảm nói về nỗi đau của những người ở lại. Bài thơ “Cạnh mẹ cha ta lại được vuông tròn” của Nguyễn Đình Cường là một trong những thi phẩm như thế . Tác phẩm vừa mộc mạc mà sâu sắc, khắc họa nỗi nhớ thương, đợi chờ và mất mát của cha mẹ đối với người con đã ngã xuống nơi chiến trường. Với giọng thơ trầm buồn, tha thiết và hình ảnh giản dị mà lay động, tác giả đã tạc nên bức tượng đài cảm động về tình phụ mẫu, thứ tình cảm thiêng liêng, bất tử giữa khói lửa chiến tranh.

II. Thân bài:

– Tình cảm yêu thương, kỳ vọng của cha mẹ khi con lên đường

+ Lúc tiễn con ra trận, cha mẹ gửi gắm ước mơ bình dị: mong con sống sót trở về, xây dựng gia đình, có cháu cho ông bà bồng bế.

+ Hình ảnh “vợ của con phải như là cô Tấm” thể hiện mơ ước về một cuộc sống yên bình, đầm ấm và hạnh phúc – điều rất đỗi đời thường nhưng đầy xúc động trong bối cảnh chiến tranh.

– Nỗi chờ mong, khắc khoải của cha mẹ khi con biền biệt nơi chiến trường

+ Dù con không trở về đúng hẹn, cha mẹ vẫn luôn chờ đợi:

“Cha vẫn ngồi chờ đợi bữa cơm trưa sau những buổi cày, bừa”

“Mẹ nằm mơ giữa giấc ngủ ban ngày…”

+ Thời gian làm cha mẹ “tóc bạc, răng long”, “mắt đã mờ nhìn không nổi”, vẫn gắng xoa di ảnh con như một niềm an ủi duy nhất còn lại.

+ Diễn tả tâm trạng tàn phai của cha mẹ khi hy vọng dần cạn, niềm tin không còn “lấp lánh” như trước.

– Sự hy sinh âm thầm và nỗi đau mất mát trong lòng người ở lại

+ Con hy sinh giữa núi rừng heo hút, nơi “sốt rét thừa, thiếu muối” – gợi sự khắc nghiệt của chiến tranh.

+ Nỗi đau của cha mẹ không bộc lộ dữ dội mà thấm sâu, kéo dài theo năm tháng, là sự chờ đợi trong câm lặng và mỏi mòn.

+ Cảm giác mất mát được diễn tả nhẹ nhàng mà day dứt: “Theo mẹ cha đi về chỗ con nằm”.

– Sự đoàn tụ muộn màng trong cõi vĩnh hằng và vẻ đẹp của tình cha mẹ

+ Khổ kết mang màu sắc siêu thoát: con đã hy sinh, cha mẹ cũng ra đi, nhưng họ lại được “vuông tròn” – được đoàn tụ nơi cõi Phật.

+ Tình cảm cha mẹ dành cho con vẫn vẹn nguyên, “vẫn cưng con như những ngày đỏ hỏn”.

+ Hình ảnh “đài sen – Mẹ đón” mang tính biểu tượng, thiêng liêng, nâng tình cảm gia đình lên tầm thiêng liêng bất tử.

– Nghệ thuật đặc sắc

+ Giọng thơ nhẹ nhàng, trầm lắng, đầy cảm xúc.

+ Ngôn ngữ bình dị, giàu hình ảnh gợi tả đời sống nông thôn, giàu tính biểu cảm.

+ Cách sử dụng đối lập: giữa quá khứ – hiện tại, sự sống – cái chết, hi vọng – tan vỡ để khắc sâu nỗi đau âm thầm của cha mẹ.

III. Kết bài:

– Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ: ca ngợi tình cha mẹ thiêng liêng, bất diệt trong bối cảnh chiến tranh tàn khốc.

– Mở rộng: Bài thơ là lời nhắc nhở sâu sắc về sự tri ân đối với thế hệ đi trước và những người đã hy sinh cả cuộc đời để chờ đợi, yêu thương, nuôi nấng.

Với giọng điệu nhẹ nhàng, ngôn ngữ mộc mạc, giàu hình ảnh đời thường, bài thơ không chỉ khắc họa một bi kịch của chiến tranh mà còn làm sáng lên ánh sáng nhân văn rạng rỡ – tình cha mẹ, lòng trung hiếu và nỗi nhớ thương khôn nguôi. Đây là khúc hát bi tráng và cũng là lời tri ân sâu sắc gửi đến những người mẹ, người cha đã hy sinh lặng thầm phía sau cuộc chiến.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online