Phân tích hình tượng nhân vật anh xẩm để làm nổi bật giá trị nhân đạo của truyện ngắn Anh xẩm

Bình chọn

Đề bài: Hãy phân tích hình tượng nhân vật anh xẩm để làm nổi bật giá trị nhân đạo của truyện ngắn Anh xẩm.

ANH XẨM – Nguyễn Công Hoan –

Từ chiều, lại bắt đầu trở rét.

Gió.

Mưa.

Não nùng.

Đường vắng ngắt. Chưa đến 8 giờ mà đường đã vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao – su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải tia ra hai bên cánh gà hai dòng khói thuốc lá. Lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng. Thật là cả một đụn vải chỉ hở có cái mặt. Trên đầu một cái mũ tủm hum xuống đến mi, quanh cổ, một cuộn khăn len dầy cộm. Rồi áo, quần, giầy, bít tất, găng tay, có bao nhiêu thứ để chống nhau với rét, đều quện cả vào người xù xù. Mưa như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ trắng ra. Xung quanh ngọn lửa điện đẫm lệ rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn. Đường bòng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài. Gió giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường lăn theo nhau rào rào. Hơi lạnh thấm buốt đến tận xương. Cây và cột đèn rú lên. Nhưng một giọng hát ảo não xen lẫn vào tiếng gió.

Mua sản phẩm bán chạy nhất

Hội Chùa Thầy anh em ơi còn đương lúc đua chen,

Hễ nhanh chân thì tới, chứ ươn hèn thì í xa.

Dưới mái hàng nước đầu ngã ba, một anh xẩm đương lắc lư, nghêu cổ lên mà hát. Anh ngồi trên manh chiếu, trước cái xoong sắt tây thủng, một đùi ghếch lên mặt đàn. Tay nắm cần, tay bật dây, anh uốn cung đàn trầm bổng theo tiếng hát khàn khàn. Cái mũ dạ, trơn từ đỉnh đến rìa, mềm oặt theo khuôn đầu, che cho anh khỏi lạnh gáy. Nhưng cái áo tây vàng rộng thùng thình không giữ nổi hơi rét cắt da. Mặt anh xám lại. Hết bài xẩm chợ, anh quay ra cải lương. Anh ngâm:

Hai năm i i mới rõ la à mười i,

Hễ mà hai sáu ú ú, tôi i thời mười i hai ai…

Mà chứ tôi cảm tạ các à ngài…

Điệu hành vân bắt đầu.

Anh ngửa đầu, dúm gân mặt, há mồm ra mà hát. Tiếng đàn từng tưng hòa theo, lúc khoan, lúc nhặt.

– Nào các ông các bà cho nhà cháu kiếm bữa.

Anh nhăn răng ra cười.

Nhưng mà…

Gió vẫn giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường lăn theo nhau rào rào. Ho lạnh thấm buốt đến tận xương. Cây và cột đèn rú lên. Mưa vẫn như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ, trắng ra. Xung quanh ngọn lửa điện đẫm lệ, rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn. Đương bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài. Đường vẫn vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao-su kín mít như bưng, lép nhép, chạy uể oải, tia ra hai bên cánh gà hai dòng khói thuốc lá lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên, run rầy, vội vàng.

Thế mà anh xẩm vẫn hát. Anh kể sa mạc:

Mà chứ anh khoá ơi, em tiễn chân anh xuống tận bến tàu,

Hai tay sém xách cái khăn giầu em lấy đưa anh.

Và đến Ma-đơ lông:

Là bá i a phố rrề.

Thau anh vẫn không một tiếng vang động. Một xu cũng chẳng có. Một chinh to cũng chẳng có. Một chinh con cũng chẳng có. Anh càng hết sức để hát, để đàn, và để… không ai nghe.

Bởi vì…

Đường càng vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao – su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải, lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng.

Bởi vì…

Mưa càng như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ trắng xoá. Xung quanh ngọn lửa điện đẫm lệ, rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn. Đường bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.

Bởi vì…

Gió vẫn giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường lăn theo nhau rào rào. Hơi lạnh thấu buốt đến xương. Cây và cột đèn rú lên.

Nhưng anh xầm có trông thấy đâu cảnh ấy.

Anh lại nói:

– Các ông các bà bớt chút ít cho cháu kiếm bữa gạo.

Ông nào? Bà nào? Quanh anh nào có ai?

Song anh vẫn cứ hát, hát một mình.

Anh, anh cùng em, có giời có giời xui khiến

Cho chúng ta dịp này.

Rồi lại kể chuyện Sài Gòn:

Anh tiếc cho cô mình mơn mởn đương tơ,

Buồng không lạnh ngắt đương chờ đợi ai.

Và thỉnh thoảng lại giục:

– Các ông các bà thương kẻ khó, các ông các bà ơi.

Anh tưởng đông người đứng nghe lắm.

Chứ biết đâu, xung quanh anh, gió giật từng hồi, lá vàng trút xuống mặt đường, lăn theo nhau rào rào.

Mưa như rây bột, như chăng lưới. Đường bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài. Đường vắng ngắt. Thỉnh thoảng những chiếc xe cao – su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải. Lại thỉnh thoảng, một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng.

Anh cứ hát. Hết sức hát. Gò ngực mà hát. Há miệng to mà hát. Hát như con cuốc kêu thương. Ông giăng lên cao, ông giăng xuống thấp, ông giăng lẩn bóng chuối, chứ ông giăng lại i a mờ. Và khi đã đến hết tất cả các bài anh thuộc, anh ngồi im lặng để chờ và để nghe. Sau hết, sờ tay vào lòng thau không để vét. Rồi anh run cầm cập, xếp thau, ôm đành cuốn chiếu, cầm gậy, đứng dậy, thong thả lần lối đi.

Gió.

Mưa…

Não nùng.

Phân tích hình tượng nhân vật anh xẩm để làm nổi bật giá trị nhân đạo của truyện ngắn Anh xẩm

Bài làm Phân tích hình tượng nhân vật anh xẩm để làm nổi bật giá trị nhân đạo của truyện ngắn Anh xẩm

1. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Nguyễn Quang Sáng – nhà văn Nam Bộ, nổi tiếng với những trang văn giàu chất hiện thực và nhân đạo.

  • Giới thiệu truyện ngắn Anh xẩm: kể về cuộc đời bi kịch của một người hát rong mù lòa.

  • Dẫn dắt vấn đề: hình tượng nhân vật anh xẩm là trung tâm của tác phẩm, qua đó thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo của truyện.

Nguyễn Quang Sáng là một trong những cây bút tài hoa của văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt thành công khi viết về cuộc sống và con người Nam Bộ. Trong truyện ngắn Anh xẩm, nhà văn đã khắc họa hình tượng người hát rong mù lòa với số phận éo le, bất hạnh. Qua nhân vật này, tác giả không chỉ phản ánh những nỗi đau của lớp người nghèo khổ bị xã hội hắt hủi mà còn bày tỏ tấm lòng cảm thông, trân trọng với phẩm chất và nghị lực sống của họ. Chính vì vậy, hình tượng anh xẩm đã trở thành điểm sáng nghệ thuật, góp phần làm nổi bật giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

2. Thân bài

Phân tích cụ thể:

   Học sinh có thể chọn nhiều cách triển khai vấn đề cần nghị luận nhưng về cơ bản phải đảm bảo các ý sau đây:

Về nội dung

– Hình ảnh anh xẩm nghèo khổ, ăn mặc sơ sài, dùng lời ca tiếng hát mưu sinh trên lề phố giữa  cái lạnh thấu xương và những cơn mưa bụi não nùng…cũng như sự vô tình của người qua đường.

– Anh xẩm lao động hăng say, cật lực đến kiệt sức nhưng rốt cuộc trong thau vẫn trống không, không nhận được một chút lòng từ tâm bố thí…

– Giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện đậm nét qua giọng văn đầy thương cảm, xót xa của tác giả cho một mảnh đời tật nguyền bất hạnh nhưng vẫn khát vọng sống mãnh liệt bằng sức lao động chân chính của bản thân.

Về nghệ thuật

– Bút pháp tả thực, phơi bày một cách sinh đông hiện thực

– Truyện không có cốt truyện

*Nhận xét:

“Anh xẩm” là truyện ngắn hiện đại, không có cốt truyện, thể hiện khát vọng sống của con người trong hoàn cảnh khắc nghiệt và tấm lòng thương cảm sâu sắc của nhà văn.

3. Kết bài

  • Khẳng định hình tượng anh xẩm là trung tâm tư tưởng của truyện, vừa gợi xót thương vừa làm sáng lên vẻ đẹp của người lao động nghèo.

  • Giá trị nhân đạo của tác phẩm: ca ngợi con người, cảm thông với số phận bất hạnh, phê phán xã hội cũ.

  • Từ nhân vật anh xẩm, ta thấy được tấm lòng nhân ái, trái tim giàu yêu thương của Nguyễn Quang Sáng.

Có thể nói, nhân vật anh xẩm trong truyện ngắn cùng tên không chỉ là một phận đời bi thương mà còn là biểu tượng cho sức sống, cho khát vọng được yêu thương và được công nhận. Bằng ngòi bút chân thực và thấm đẫm tình người, Nguyễn Quang Sáng đã gửi gắm nỗi xót xa, đồng thời khẳng định giá trị của con người dù họ sống trong bóng tối hay bị xã hội lãng quên. Hình tượng anh xẩm vì thế vừa gây xúc động, vừa gợi nhắc mỗi chúng ta phải biết yêu thương, trân trọng và sẻ chia nhiều hơn với những phận đời bất hạnh quanh mình.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online