Đề bài: Viết bài văn đánh giá nét đặc sắc về nội dung tư tưởng của truyện ngắn Thương quá rau răm của Nguyễn Ngọc Tư
Lược phần đầu: Ông Tư Mốt là một cựu chiến binh, là trưởng ấp của một dải đất cù lao Mút cà Tha gồm ba mươi ta nóc nhà. Hôm nay ông đang chở một bác sĩ trẻ từ thành phố về đây công tác. Bác sĩ thứ sáu về làm việc ở trạm xá cù lao. Năm người trước đã ra đi, đi vì không chịu nổi thiếu thốn. Và buồn.
Cù lao Mút Cà Tha nằm gần cuối sông Dài, trên nó một chút có một nhánh sông khác rẽ về phía mặt trời, rộn rịp được đoạn đó rồi thôi. Mút Cà Tha nằm hiu hắt, lâu lâu mới thấy bóng dáng một con tàu lớ ngớ chạy vào rồi lại tẽn tò quay ra vì lầm đường, vì không biết đằng sau cù lao, sông cụt. Ngó sông vắng vẻ quá trời buồn, nhìn cảnh cù lao còn buồn hơn. Buồn từ mùi ổi chín phảng phất trong vườn, từ giọng người ới lên một tiếng rồi bặt, dư âm còn thâm u trên các ngọn cây, tiếng cạo cơm cháy xa vẳng trong nắng chiều… Từ mé rừng mắm chống lở đất phía bên này, đi hết vườn cây này gặp được một căn nhà thì lại tiếp đến vườn cây trái khác. Cuối cùng là bãi bồi, dây khoai lang bò xùm xòa phủ kín đất. Bóng người ẩn hiện dọn cỏ dưới các gốc cây. Bên đường thấp thoáng nhiều nấm đất con con của những đứa trẻ kiệt sức vì bị đẹn mà chỉ được rơ miệng bằng cỏ mực, những đứa trẻ bệnh sốt xuất huyết chỉ chữa bằng cạo gió, uống nước mía lau, rễ tranh, những đứa trẻ mắc thương hàn bị thủng ruột vì tự do chạy ra vườn ăn ổi chua, ổi chát… Những gò đất ấy đã cũ mèm rồi, bây giờ người cù lao hiểu biết nhiều, nhưng vẫn còn chuyện rủi may, còn người bị rắn độc cắn, chết trên đường ra bệnh viện huyện. Hôm ấy, trưởng ấp Tư Mốt tuyệt vọng nắm chặt hơi thở cuối của ông bạn láng giềng trong tay, tuyệt vọng thấy nó tan đi, ông về nhà viết lên tường trạm xá “Cương quyết chỉ chết vì già”.
Nhân viên y tế nào mới về ngó câu khẩu hiệu ấy cũng cười, cũng thương. Nhưng rồi nửa khuya ngồi ăn mì gói, nghe cú kêu lẫn tiếng radio khọt khẹt (để chút âm thanh đấy cho đỡ quạnh), vạch đi vạch lại tờ báo cũ mèm, họ sực nhớ phải về quê lấy vợ, lấy chồng, sực nhớ vợ mình mới sinh, sực nhớ tội nghiệp ba má đã già… Và họ từ giã cù lao. Ông Tư Mốt ờ ờ ra chiều thông cảm, vẻ mặt cố tỏ ra không buồn nhưng hàm râu xuôi xị. Họ ngoắc đò đi rồi ông còn đứng mãi trên bến, nghĩ giận đám trẻ cù lao đã được học hành nhưng chẳng đứa nào chịu quay về.
Nên ông bảo với bốn mươi ba nóc gia sống trên Mút Cà Tha, “Bất cứ người xứ lạ nào đến làm việc ở đất cù lao đều quý, mình phải đối xử cho tử tế, thiệt tử tế”. Gặp Văn lần đầu tiên, ông nghĩ ngay, phải giữ thằng nhỏ này ở lại cù lao, thấy cái mặt buồn buồn, ngó bộ đàng hoàng. Ông nghĩ là mình có cách, không có gì sâu nặng bằng tình cảm người với người. Thì ông đã rịt chân mấy thầy cô giáo cho đám trẻ cù lao đấy thôi. Hôm Văn đến, bà con ôm lại cho một đống áo quần, góp gạo đổ vô thùng, câu cá đem rộng. Rồi mấy con cá ốm nhom, trắng dờ con mắt, lội vật vờ tới lui chờ hóa kiếp mà Văn vẫn còn ngợp trong mớ lời mời, hết nhà này đến nhà khác, bữa thì cháo vịt, cháo rắn, bữa khác tôm nướng, lươn um…
Mà, trông Văn vẫn buồn, buồn chen giữa hai cái cười, nó tranh thủ cả khi Văn đưa ly rượu lên môi và để ly không xuống (còn lúc uống thì mặt Văn nhăn nhúm lại, vẻ buồn không rõ ràng). Hỏi làm sao buồn thì Văn cười, ủa, cháu có buồn gì đâu. Hỏi nhớ thành phố à, Văn cũng cười, không, thành phố có gì mà nhớ. Hỏi nghĩ sao mà tình nguyện về đất cù lao này, nghe tên Mút Cà Tha bộ không ớn sao, Văn (lại) cười, không, có nghĩ gì đâu, cháu chọn nơi nào hẻo lánh ít người… Nghe cái giọng như đời ta là lục bình, trôi đâu cũng được, càng xa càng tốt.
Nhưng trưởng ấp Tư Mốt phải làm cho anh chàng hiểu đời anh có ý nghĩa với đất này như thế nào, thiếu anh người cù lao sống không nổi chớ chơi à. Buổi sáng có người chạy lại than nhức đầu, sổ mũi, buổi chiều thêm chứng chóng mặt, đau mình… Trưởng ấp tà tà dài theo xóm, thấy ai rảnh rỗi là kêu, đứng đó làm gì, sao hổng lại trạm xá cho bác sĩ người ta khám.(…)
Và anh hiểu tại sao ông già ấy lại quan tâm tới mình. Chiều nào ông cũng lại chỗ Văn, rủ rỉ rù rì. Ông biết giờ đó, bà mụ Năm, nhân viên thứ hai của trạm xá đã về nhà, có thể Văn thấy cô đơn. Ông kêu đám thanh niên lại chỗ Văn đàn hát tẳng tằng tăng, dẫn Văn đi câu cá hay soi ếch trong “mà”. Văn tham gia nhiệt tình nhưng không tha thiết như người đi đường thấy vật lạ thì cầm lên, rồi lại bỏ xuống, đi tiếp. Có lần ông Tư hỏi nhà Văn ở khúc nào, Văn bảo ở chỗ ấy chỗ ấy mà trong bụng buồn cười, nghĩ nói cho có chứ chắc gì ông biết, nghe cái giọng như thể thành phố nhỏ bằng cù lao. Không ngờ ông biết thật, nói hồi giải phóng, trung đội ông đánh vô đường đó. Ban quân quản còn cấp cho ông căn nhà đằng trước có khoảng sân ngập tràn bông giấy rụng. Văn hỏi, rồi sao bác lại ra sống ở đây. Ông cười, vì cái đất này cần mình. Nói xong câu này, ông lén dò xét coi thằng nhỏ có bắt được cái ý nghĩa ngầm mà ông gửi gắm không, chỉ thấy Văn ngó lên trời, ngó xa xôi, hỏi nhìn gì, Văn ù ờ, bảo nhìn chim bay, không biết tụi nó bay tới đâu, về tận đâu. Trưởng ấp Tư Mốt thấy bất an, về nhà biểu con gái sớt nửa nồi bí hầm dừa bưng qua trạm xá. Con Nga dạ rồi tong tả đi.
Nó thường được ông Tư sai bưng thức ăn đến trạm xá cho Văn. Nhiều nhất, thường nhất là món khoai luộc nóng hổi, thơm bừng. Bưng rổ khoai từ nhà đến chỗ Văn, khói mềm cả ống tay áo Nga. Trời trở chướng, gió ráo hanh nhưng nước lên, sân trước trạm xá ngập lênh láng, con Nga xắn quần quá gối lội qua, thấy Văn, nó thưa thẽ thọt “Ba em gửi anh ít khoai” rồi về. Lần sau, nó xắn quần thấp một chút, bảo ăn khoai đi anh. Sau nữa nó cứ để ống quần bết nước, lọng cọng đứng ngoài cửa, hai gò má rựng lên, gọi “Ăn khoai nè”. Lúc đấy thì nói ít, thẹn thò nhưng ở lại lâu, dọn dẹp lăng xăng, quét trên quét dưới, bắc nồi cơm lên bếp, làm cá nấu canh chua trái giác, sung sướng thấy mình bận rộn giống hệt mấy nhỏ bạn mới lấy chồng (tụi con gái thường hay điên vậy, tới khi xà quần chồng con thật, lại than số mình cực như trâu). Rồi sực nhớ bếp ở nhà lạnh tanh, nó chạy về. Ông Tư ngồi trước cửa, giấu sự thắc thỏm (và một chút lưỡng lự, mình tạo điều kiện cho hai đứa gần gũi vầy có sao không ta). Cố tươi tỉnh, ông hỏi ngay, “Con Nga lo cho anh bay xong chưa ? Mắc gì mà mày cười suốt từ ngoài đường vào đây ?”. Dạ, con Nga chối bay, con đâu có cười, tại ba má sanh cái miệng con vậy mà. Nói rồi nó chạy vô bếp, bâng khuâng cười thêm một hồi nữa…
(Tóm tắt: Chủ nhật, Văn mượn xe đạp chở con Nga đi chơi lòng vòng cù lao. Bữa nọ, Nga đem mấy cần xé ổi ra chợ huyện cân cho vựa thì gặp đám bạn văn xốc xếch đứng bến. Nga cho quá giang về Mút Cà Tha….Văn đưa bạn ra về rồi về không trở lại, lặng lẽ như chạy trốn)
Trưởng ấp Tư Mốt đứng ở trạm xá, thấy sau trước trống không, trong lòng nghe đau tiếc như vừa thua một ván bài lớn. Văn không từ giã ông một lời, để nói cháu về vì má cháu đang đau, hoặc cháu ra ngoài trung tâm y tế huyện một tí, rồi lên xe đi luôn cũng được, dù nhìn vào đôi mắt đang cụp xuống kia, biết người ta nói dối, dù trong tâm ông đã vẫy tay để chào xa mãi.
Trong một thoáng, ông thấy mình chùng chình, vớ được khúc cây bình bát, ông chống vào đất. Bên ngoài cái đất Mút Cà Tha dường như đã có sự thay đổi lớn. Thí dụ như con cá, lá rau, hạt gạo mến thương của người cù lao không ràng buộc được một con người (như đã từng rịt chân ông lại), thì cái bóng nhỏ nhoi của đứa con gái đang tuyệt vọng đứng ngóng chờ dưới bến không có ý nghĩa gì sao ? Tuyệt không đáng gì à ?

Bài làm Đánh giá nét đặc sắc về nội dung tư tưởng của truyện ngắn Thương quá rau răm của Nguyễn Ngọc Tư
1. Mở bài
-
Giới thiệu tác giả Nguyễn Ngọc Tư: cây bút tiêu biểu của văn xuôi Nam Bộ đương đại, nổi tiếng với lối viết dung dị, thấm đẫm tình người.
-
Giới thiệu tác phẩm Thương quá rau răm: một truyện ngắn giàu chất nhân văn, phản ánh số phận và khát vọng của người dân vùng sông nước Mút Cà Tha.
-
Khái quát: Tác phẩm mang nhiều nét đặc sắc về nội dung tư tưởng, vừa phản ánh hiện thực khắc nghiệt, vừa gửi gắm niềm cảm thông và tình yêu thương tha thiết đối với con người.
Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút nữ tài năng của văn học Nam Bộ đương đại, với giọng văn dung dị, chân thành và chan chứa tình người. Tác phẩm của chị thường không cầu kỳ ở cốt truyện, nhưng giàu cảm xúc và ám ảnh bởi những chi tiết rất đời thường. Trong truyện ngắn Thương quá rau răm, Nguyễn Ngọc Tư đã tái hiện cuộc sống của người dân trên vùng cù lao hẻo lánh Mút Cà Tha – nơi nghèo khó, buồn hiu nhưng vẫn rực sáng tình thương và khát vọng được sống trọn nghĩa, trọn tình. Tác phẩm không chỉ khắc họa chân thực thân phận người nông dân Nam Bộ mà còn chứa đựng nhiều suy ngẫm nhân văn sâu sắc.
2. Phân tích
* Đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
– Về nội dung:
+Thương quá rau răm kể về cuộc sống của những con người nơi vùng đất hẻo lánh, xa xôi Mút Cà Tha. Con người nơi đây sống gần như tách biệt với cuộc sống bên ngoài, đó là nơi “nằm hiu hắt, lâu lâu mới thấy bóng dáng một con tàu lớ ngớ chạy vào rồi lại tẽn tò quay ra vì lầm đường, vì không biết đằng sau cù lao, sông cụt”. Chứng kiến cái chết đau thương của ông bạn láng giềng, trưởng ấp Tư Mốt tha thiết mong muốn có bác sĩ về đây làm việc, chữa bệnh cho người dân, có thêm hơi người để cuộc sống của họ bớt tẻ nhạt, cô đơn.
+Qua truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư đã phản ánh cuộc sống của phần lớn người nông dân Nam bộ đều nghèo, đều có một số phận long đong, vất vả nhưng trên hết, họ sống với nhau bằng cái tình, bằng sự thương yêu và đùm bọc lẫn nhau, bằng một nghị lực sống dồi dào, mãnh liệt. “Cương quyết chỉ chết vì già”.
+ Truyện cũng đem đến những suy ngẫm về những nghịch lí luôn tồn tại trong cuộc đời: không phải cứ yêu thương là được đáp lại bằng yêu thương, không phải trao một nụ cười hiền lành là nhận được một ánh mắt trìu mến, người tốt nhưng chưa chắc đã được hưởng hạnh phúc. Việc Văn bỏ về thành phố là chi tiết nghệ thuật phản chiếu vết thương lòng khó chữa lành trong tâm hồn người dân vùng song nước.
– Về nghệ thuật, tác phẩm chứa đựng những đặc trưng của nghệ thuật truyện kể
+ Cốt truyện: Cốt truyện giản dị không có những sự kiện kịch tính, những xung đột giằng xé quyết liệt
- Nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn hấp dẫn với sự đa dạng trong điểm nhìn trần thuật
+ Nghệ thuật khắc họa nhân vật không chỉ qua hành động lời nói mà qua dòng nội tâm sâu kín của nhân vật
+ Ngôn ngữ trần thuật tự nhiên mang màu sắc Nam Bộ. Giọng điệu mộc mạc, dân dã rất Nam Bộ pha trộn cùng với giọng trữ tình .
– Nêu được bài học rút ra từ câu chuyện:
Truyện ngắn đem đến cho người đọc bài học nhân văn sâu sắc: trong cuộc sống, cần phải có lòng trắc ẩn, tình yêu thương, nhất là đối với những số phận bất hạnh; và dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, hãy sống trọn tình, trọn nghĩa.
3. Kết bài
-
Khẳng định: Thương quá rau răm là truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Ngọc Tư, phản ánh chân thực cuộc sống vùng sông nước nghèo khó và gửi gắm tình yêu thương bao la đối với con người.
-
Ý nghĩa: Tác phẩm nhắc nhở chúng ta phải biết sống nhân ái, sẻ chia và trân trọng những giá trị giản dị, mộc mạc trong cuộc đời.
Thương quá rau răm là một truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo, thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật đặc trưng của Nguyễn Ngọc Tư: giản dị mà ám ảnh, buồn thương nhưng chan chứa yêu thương. Qua hình ảnh cù lao Mút Cà Tha cùng những con người mộc mạc, giàu tình nghĩa, tác giả gửi gắm thông điệp về lòng trắc ẩn, sự sẻ chia và khát vọng sống có ý nghĩa. Tác phẩm khiến người đọc vừa day dứt, vừa cảm phục, để rồi thêm trân trọng những giá trị nhân văn sâu bền của cuộc đời.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
