Phân tích diễn biến tâm trạng và bi kịch của nhân vật thầy Thông Thu trong đoạn trích Chén thuốc độc

Bình chọn

Đề bài: Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm trạng và bi kịch của nhân vật thầy Thông Thu trong đoạn trích Chén thuốc độc để làm rõ tư tưởng nhân đạo của Vũ Đình Long

CHÉN THUỐC ĐỘC (Trích)

(Vũ Đình Long)

(Lược một đoạn: Cụ Thông chết đi, để lại cho vợ con một gia sản giàu có. Nhưng do bà vợ và cô con dâu cả ham đồng bóng, cậu con trai cả là thầy Thông Thu lại ăn chơi trác táng nên cảnh nhà sa sút nhanh chóng. Thầy giáo Xuân, bạn của thầy Thông Thu, đã nhiều lần dùng lời hay lẽ phải khuyên can bạn, nhưng thầy Thông Thu đều bỏ ngoài tai. Cuối cùng, gia đình dần khánh kiệt, thầy Thông Thu có thể sẽ phải vào tù nếu không trả được nợ).

Đoạn trích dưới đây thuộc hồi thứ Nhì, lớp I và hồi thứ Ba, lớp VI của vở kịch.

HỒI THỨ NHÌ

Lớp I

THẦY THÔNG THU (bóp trán nghĩ ngợi): – Thế là tính cả ruộng nương nhà quê, công nợ và tiền mặt, nhà mình còn có 2.000 đồng. Mà mình nợ Tây đen 500 đồng, nợ vặt cộng 200 đồng, mẹ nợ chú Ả Peng 400 đồng, cộng một nghìn mốt … Bán cả ruộng nương, đòi hết công nợ lấy tiền trả ba món nợ, còn lại được có chín trăm đồng, với lại cái nhà này! Chao ôi! Sao mà chóng hết thế này? Thế ra có hai năm giời mà nhà ta tiêu hết những năm nghìn đồng !… Hai nghìn rưỡi một năm, hai trăm đồng một tháng !… (một lát) Nghĩ ra thì đến thật! Hàng Giấy, cao lâu, thua bạc, cho gái, bạn lừa,… Nghĩ ra thì mình thường điên rồ ném tiền qua cửa sổ khi mình tiêu năm mười đồng bạc cứ coi như không. Bây giờ tích tiểu thành đại, bại hoại gia tài, biết hối thì đã không kịp! Lương tháng mình có non bốn chục đồng mà tiêu những hai trăm! Điên rồ quá!

(Một lát lại nói)

Giá tôi biết nghe những lời anh giáo Xuân thường can ngăn thì đâu có đến nông nỗi này! Ta càng nghĩ bao nhiêu, càng thấy mình làm nhơ, làm nhuốc, làm xấu, làm hổ bấy nhiêu. Tu mi nam tử, công mười năm học hành đã không làm được điều gì ích quốc lợi dân thì chớ, lại còn đắm đuối trong bể tình dục, miệt mài trong cuộc truy hoan, đến nỗi gia tài của cha để lại mới có vài năm mà đã gần khánh kiệt. Một năm nữa thì tay trắng chứ còn sá gì! Nhơ nhuốc thay!

HỒI THỨ BA

Lớp VI

THẦY THÔNG THU (một mình, thở dài): – Thật là vô kế khả thi! Tiền tài hết! Danh dự không còn! Ở tù! Nay mai lại được đóng lon tù! Ôi thôi! Nước đời đến thế còn mong nỗi gì !… Ở tù! Ở tù! Kìa, kìa thằng tù ăn cơm hẩm, mặc áo số, gối đất nằm sương, làm lụng cực hơn con vật! Mình quen ăn sung mặc sướng, làm lụng thì quen mùa nóng quạt máy, mùa rét lò sưởi, chịu sao được những nỗi đắng cay ở tù? Thà rằng một thác cho xong! Chí ta đã quyết rụt rè sao nên.

(Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào túi lấy hộp thuốc phiện)

Ta đã mua bác dấm thanh này, với bác thuốc phiện này, là đã quyết nhờ hai bác đưa giùm ta về với cõi cực lạc.

(Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy)

Sống mà chi nữa? Thác trong còn hơn sống đục! Ta sống mà ta không chút gì ích quốc lợi dân, ta sống mà ta làm một con mọt trong xã hội thì ta sống làm gì? Chết thôi!

(Cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống)

Thuốc chưa tan hết, ta uống ngộ còn ngắc ngoải, không chết dứt chăng? (Lại khuấy) Chết chứ sợ gì? Nghĩ cho kỹ ở trên đời có nghĩa lý gì? Từ khi ngo ngoe khóc, lọt lòng mẹ ra đến khi cắp được quyển sách đi học; từ lúc trưởng thành cho đến khi răng long tóc bạc, sinh con đẻ cái; nghèo khổ hay giàu sang; vui sướng hay sầu não; ta nghĩ lại công trình tạo hóa đối với cái hạt bụi người chẳng qua chỉ thế thôi! Người ta nói “đời người là giấc mộng” có lẽ cũng là thế đó. Thôi ta chết cho rồi!

(Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống)

Ta đã quyết lòng chết thì có sợ chi! Nhưng ta mà chết đi thì mẹ ta, vợ ta, em ta ai nuôi, ai nấng, ai trông, ai nom? Mà nói cho phải thì dù ta sống mà phải ở tù thì khác chi chết, trông nom nuôi nấng sao cho được mẹ, được vợ, được em? Dẫu có được tha sớm thì mình cũng đã bị cách chức rồi, còn chi nữa mà mong! ( … ) Vậy ta sống cũng như ta chết, chẳng thà chết trước còn hơn!

(Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống)

Ừ mà ta thong thả một chút rồi hãy chết! Tí nữa quên! Ta có thằng em trai cũng vì chơi bời quá, công nợ nhiều, bỏ nhà sang Lào, hôm nọ nghe họ đồn rằng nó làm ăn cũng đã khá, vậy ta hãy viết cho nó cái thư để nó về phụng dưỡng mẹ. Phải rồi, ta hãy viết thư cho nó rồi chết cũng can tâm.

(Trích “Chén thuốc độc” – Vũ Đình Long, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000).

Phân tích diễn biến tâm trạng và bi kịch của nhân vật thầy Thông Thu trong đoạn trích Chén thuốc độc

Bài làm Phân tích diễn biến tâm trạng và bi kịch của nhân vật thầy Thông Thu trong đoạn trích Chén thuốc độc

I. Mở bài

  • Giới thiệu ngắn về tác phẩm Chén thuốc độc và vị trí đoạn trích.

  • Nêu vấn đề nghị luận: phân tích diễn biến tâm trạng và bi kịch của Thầy Thông Thu để làm rõ tư tưởng nhân đạo của Vũ Đình Long.

Vũ Đình Long là một trong những cây bút tiên phong của kịch nói Việt Nam hiện đại, người đã mạnh dạn đưa những vấn đề đạo đức và xã hội vào sân khấu bằng cái nhìn nhân văn sâu sắc. Trong Chén thuốc độc, ông khắc họa bi kịch đau đớn của một trí thức sa ngã – thầy Thông Thu, người từ chỗ ăn chơi trác táng đến khi lâm vào cảnh bế tắc, tuyệt vọng. Qua những diễn biến tâm trạng phức tạp của nhân vật, nhà viết kịch không chỉ tái hiện một bi kịch cá nhân mà còn gửi gắm tư tưởng nhân đạo thấm thía: cảm thông cho con người lầm lỡ và khơi dậy trong họ khát vọng hướng thiện, trở về với giá trị đạo đức chân chính.

II. Thân bài

1. Hoàn cảnh dẫn tới bi kịch (dẫn nhập)

  • Trình bày tóm tắt hoàn cảnh: gia tài của cụ Thông để lại nhanh chóng tiêu tan do thói ăn chơi, sa đọa của bà vợ và con dâu; Thầy Thông Thu vỡ nợ, lâm vào tình trạng khánh kiệt.

  • Hoàn cảnh ấy là tiền đề khách quan đẩy nhân vật vào khủng hoảng tinh thần.

2. Diễn biến tâm trạng (chia theo các giai đoạn rõ rệt)

a. Giai đoạn thức tỉnh và ăn năn

  • Thầy Thông Thu bộc lộ hối hận, tự trách: nhận ra lỗi lầm, thấy mình “nhơ nhuốc”, “làm nhuốc, làm xấu”.

  • Dấu hiệu: lời độc thoại thống hối, nhớ lại thói tiêu xài hoang phí, ý thức về danh dự danh phận (“Tu mi nam tử…”).

b. Giai đoạn tuyệt vọng cùng cực và tính tử tự xuất hiện

  • Thầy cảm nhận tương lai đen tối: tiền hết, nợ chồng chất, bị bắt, bị tù.

  • Xuất hiện ý định tự tử (rót dấm, mở hộp thuốc phiện, nâng cốc) như giải pháp trốn chạy.

  • Ngôn ngữ bi kịch: diễn đạt nội tâm gay gắt, hình ảnh “thằng tù ăn cơm hẩm… gối đất nằm sương” khiến nhân vật thấy ở tù còn thê thảm hơn cái chết.

c. Giai đoạn do dự, xung đột lương tâm và trách nhiệm gia đình kéo lại

  • Trước lúc uống, Thầy ngừng lại, nghĩ tới mẹ, vợ con, ý nghĩa của trách nhiệm: “Mẹ ta, vợ ta, em ta ai nuôi?”

  • Sự thức tỉnh nhân hậu: ý thức về bổn phận khiến nhân vật chùn bước, quyết định viết thư cho em trai nhờ về lo cho gia đình.

  • Sự tranh đấu giữa nhu cầu tự giải thoát và tình nghĩa gia đình tạo nên tâm trạng hỗn độn, đau đớn.

d. Kết luận tạm thời về diễn biến tâm trạng

  • Tâm trạng nhân vật biến thiên mạnh mẽ: từ ăn năn → tuyệt vọng → ý định tử tự → do dự vì tình thân → bi kịch nội tâm không có lối thoát rõ ràng.

3. Bi kịch của Thầy Thông Thu và ý nghĩa nhân đạo của tác giả

a. Bi kịch cá nhân

  • Bi kịch là hệ quả của lối sống buông thả, sa ngã nhưng sâu hơn là sự sụp đổ giá trị: danh dự, vai trò nam nhi, vị thế xã hội.

  • Thầy vừa là thủ phạm (vì tiêu pha, mê chơi) vừa là nạn nhân của hoàn cảnh xã hội và những quan hệ xấu (bạn lừa, cờ bạc, vợ con sa đọa).

b. Bi kịch xã hội và nhân đạo của Vũ Đình Long

  • Tác giả không chỉ lên án cá nhân mà còn bày tỏ lòng trắc ẩn: đồng cảm với nỗi đau, tính yếu đuối và sự lầm lỡ của con người.

  • Thông điệp nhân đạo: khuyên răn, thức tỉnh; kêu gọi tha thứ, giúp đỡ để con người có cơ hội sửa sai; phê phán thói phóng đãng, vô trách nhiệm của xã hội hiện thời.

  • Hình ảnh Thầy thương yêu gia đình, do dự không tự tử cho thấy niềm tin vào trách nhiệm đạo đức, khát vọng sống có ích.

III. Kết bài

  • Khẳng định: diễn biến tâm trạng đầy mâu thuẫn và bi kịch của Thầy Thông Thu vừa là bức chân dung cá nhân vừa là tiếng nói nhân đạo sâu sắc của Vũ Đình Long.

  • Nêu ý nghĩa: tác phẩm thức tỉnh con người giữ gìn nhân phẩm, trân trọng trách nhiệm gia đình và xã hội, đồng thời đề cao lòng thương cảm, khả năng cứu vãn con người lầm lỗi.

Với nghệ thuật xây dựng tâm lý tinh tế và đối thoại nội tâm chân thực, Vũ Đình Long đã khắc họa thành công hình tượng thầy Thông Thu như một tấm gương phản chiếu bi kịch của con người trong xã hội cũ, vừa đáng trách, vừa đáng thương. Tác phẩm không chỉ là lời cảnh tỉnh về sự tha hóa do lối sống hưởng lạc, mà còn là bản cáo chung cho những giá trị đạo đức đang dần mất mát. Tư tưởng nhân đạo của Vũ Đình Long tỏa sáng ở chỗ ông vẫn tin vào phần thiện trong con người, tin rằng sự thức tỉnh và tình thương có thể cứu rỗi con người khỏi vực sâu của tội lỗi và tuyệt vọng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online