Đề bài: Cảm nhận diễn biến tâm trạng của Tràng trong buổi sáng đầu tiên Tràng có vợ, từ đó nhận xét về sự thay đổi của nhân vật
(Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019).
Dàn ý Cảm nhận diễn biến tâm trạng của Tràng trong buổi sáng đầu tiên Tràng có vợ
I. Mở bài
-
Giới thiệu ngắn gọn về Kim Lân: nhà văn chuyên viết về nông thôn, về những con người nghèo khổ mà giàu tình người.
-
Giới thiệu truyện ngắn Vợ nhặt là tác phẩm xuất sắc viết về tình người, tình đời trong nạn đói 1945.
-
Giới thiệu nhân vật Tràng, nhấn mạnh đặc biệt vào sự đổi thay tâm trạng, tính cách của Tràng trong đoạn sáng hôm sau khi có vợ.
II. Thân bài
1. Vài nét về nhân vật Tràng
-
Người dân lao động nghèo khổ, sống cùng mẹ già trong căn nhà xơ xác ở xóm ngụ cư.
-
Nghề nghiệp bấp bênh: kéo xe bò thuê, lúc có việc lúc không.
-
Ngoại hình: xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn vậm vạp, ăn nói cục mịch.
-
Tính tình chất phác, thật thà, có phần vụng về nhưng tốt bụng.
2. Tóm tắt ngắn gọn diễn biến truyện đến đoạn sáng hôm sau
-
Giữa nạn đói, Tràng “nhặt” được vợ, một người đàn bà đói rách, chỉ sau vài câu bông đùa và 4 bát bánh đúc.
-
Hắn dẫn thị về, bà cụ Tứ thoáng ngạc nhiên, lo lắng nhưng rồi cũng thương xót, đón nhận thị bằng tấm lòng bao dung.
-
Đêm tân hôn diễn ra lặng lẽ. Sáng hôm sau, Tràng thức dậy với một tâm thế mới.
3. Phân tích nhân vật Tràng trong đoạn sáng hôm sau
a. Buổi sáng tỉnh dậy
-
Tràng cảm nhận thấy ngôi nhà đã có sự đổi khác:
-
Quét tước, dọn dẹp, ang nước đầy ắp, quần áo được phơi gọn gàng.
-
Đó là bàn tay người đàn bà đã đem hơi thở mới, sinh khí mới vào căn nhà tiêu điều.
-
-
Trong lòng Tràng trỗi dậy một cảm giác lạ lẫm mà ấm áp:
-
Tràng nhận ra gia đình không còn là “cái ổ chuột” bừa bộn của hai mẹ con nữa, mà đã có hơi hướng tổ ấm.
-
Cảm thấy mình “nên người”, thấy gắn bó, có trách nhiệm hơn với gia đình nhỏ của mình.
-
b. Trong bữa cơm đầu tiên có vợ
-
Bữa cơm tuy nghèo nàn (cháo loãng, cháo cám) nhưng tràn ngập yêu thương.
-
Khi nghe mẹ nói chuyện tương lai, Tràng chỉ “vâng” rất ngoan ngoãn, thể hiện sự đồng tình, trân trọng ước vọng nhỏ nhoi của mẹ.
-
Đến khi cầm bát cháo cám đưa lên miệng, Tràng “chun mặt lại” vì vị đắng chát, nhưng vẫn cố nuốt thể hiện sự hy sinh, nhẫn nhịn để gìn giữ không khí gia đình.
-
Khi nghe thị kể chuyện người dân phá kho thóc Nhật, trong tâm trí Tràng hiện lên hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay, ánh lên hy vọng về một cuộc đổi đời.
4. Đánh giá ý nghĩa sự đổi thay của Tràng
-
Nhờ có người vợ mà Tràng đã thay đổi, từ một anh chàng cục mịch vô lo trở thành người đàn ông biết lo toan, biết vun vén cho gia đình.
-
Khát vọng hạnh phúc gia đình và niềm tin vào tương lai đã làm Tràng trở nên nhân văn hơn, sâu sắc hơn.
-
Tác giả đã gửi gắm thông điệp: ngay giữa đói khát cùng cực, tình người, khát vọng sống vẫn bền bỉ và lặng lẽ tỏa sáng.
III. Kết bài
-
Khái quát lại hình tượng Tràng sáng hôm sau: từ anh cu Tràng vô tư, cục mịch đã thành người đàn ông của gia đình, biết yêu thương, hy vọng.
-
Khẳng định giá trị nhân đạo sâu sắc của Vợ nhặt, ca ngợi tình người, khát vọng hạnh phúc ngay giữa nạn đói thê lương.
-
Liên hệ: tác phẩm để lại bài học quý giá về tình thương, về niềm tin ở con người, ở cuộc sống.

Bài văn mẫu Cảm nhận diễn biến tâm trạng của Tràng trong buổi sáng đầu tiên Tràng có vợ
Kim Lân là cây bút xuất sắc chuyên viết truyện ngắn, gắn bó trọn đời với đề tài nông thôn và người nông dân Việt Nam. Nếu như Tô Hoài tìm cảm hứng từ vùng rẻo cao Tây Bắc, thì Kim Lân lại đi sâu vào khai thác đời sống của những người dân quê nghèo khổ vùng đồng bằng Bắc Bộ, gắn bó tha thiết với ruộng đồng, xóm làng và cách mạng. Trong số không nhiều tác phẩm để lại, Vợ nhặt vẫn được xem là truyện ngắn tiêu biểu, khắc họa sâu sắc bi kịch và vẻ đẹp con người trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Hình ảnh nhân vật Tràng, đặc biệt là trong buổi sáng hôm sau khi có vợ, đã trở thành điểm sáng nhân văn thấm thía nhất của tác phẩm.
Tác phẩm Vợ nhặt lấy bối cảnh từ nạn đói lịch sử năm 1945, khi hơn hai triệu đồng bào ta chết đói. Thế nhưng, giữa bối cảnh thảm khốc đó, Kim Lân không đi sâu vào than khóc hay tuyệt vọng mà lại khám phá vẻ đẹp nội tâm con người luôn hướng về sự sống, khát khao hạnh phúc, ánh sáng và tương lai. Đó chính là chất men kỳ diệu, là sức sống bền bỉ của dân tộc đã thôi thúc Kim Lân cầm bút.
Câu chuyện xoay quanh một tình huống éo le mà đầy nhân văn. Tràng là một anh chàng kéo xe bò nghèo xơ xác, giữa nạn đói khốc liệt lại “nhặt” được vợ, chỉ qua vài câu nói đùa và bốn bát bánh đúc. Nghe tưởng như đùa, nhưng đó chính là minh chứng cay đắng cho cảnh ngộ bi thảm đến đường cùng của người phụ nữ kia, bấu víu bất cứ đâu để thoát khỏi cái chết. Đối với Tràng, vốn là một người vụng về, nghèo túng, lại chẳng dám nghĩ đến chuyện vợ con, thì việc có vợ giống như một cơn gió lạ thổi qua cuộc đời. Ban đầu anh chỉ “ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch”, hồ hởi nhưng chưa ý thức hết được ý nghĩa to lớn của biến cố này.
Sáng hôm sau, Tràng tỉnh dậy trong một tâm trạng hoàn toàn khác. Vẫn là căn nhà ấy, nhưng nay qua bàn tay người đàn bà xa lạ đã được quét tước, thu dọn tươm tất. Ang nước đầy ắp, quần áo được phơi gọn gàng trên dây. Cảnh nhà đổi khác khiến Tràng vừa ngạc nhiên vừa sung sướng, cảm nhận rõ rệt một niềm hạnh phúc êm ái, lâng lâng như đang đi ra từ giấc mơ. Tràng nhận ra lần đầu tiên trong đời mình được sống trong không khí của một gia đình thực sự, có người quán xuyến, vun vén. Để rồi chính trong khoảnh khắc ấy, anh “thấy mình nên người”, tự nhiên cảm thấy có bổn phận phải lo lắng cho vợ con, phải vun đắp cho mái ấm nhỏ bé này. Niềm khát khao bình dị ấy bỗng trở nên thiêng liêng biết bao giữa lúc đói khát, chết chóc bủa vây.
Chi tiết được coi là đắt giá nhất trong câu chuyện chính là chi tiết “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì đó để tu sửa lại căn nhà”. Hai chữ “xăm xăm” biểu lộ sự háo hức, sốt sắng không chỉ trong dáng đi mà còn ở tâm hồn. Nó báo hiệu một bước ngoặt quan trọng: từ người đàn ông vô lo, vô nghĩ, Tràng đã bắt đầu sống có trách nhiệm, có ý thức vun vén cho gia đình. Đó là dấu hiệu trưởng thành thực sự về nhân cách. Với Tràng, chuyện có gia đình không chỉ làm thay đổi cảnh nhà, mà còn thức dậy trong anh ý thức làm chồng, làm cha, điều giản dị nhưng vô cùng lớn lao.
Bữa cơm đầu tiên có vợ cũng chính là bữa cơm cưới thật thảm hại. Bữa cơm chỉ có nồi cháo loãng cám, lùm rau chuối thái rối, đĩa muối. Miếng cháo cám đắng nghét, tủi cực như nhắc nhở họ về hiện thực đói kém khắc nghiệt. Nhưng chính lúc ấy, khi nghe thị nói về chuyện người dân mạn Thái Nguyên, Bắc Giang phá kho thóc Nhật chia cho người đói, Tràng bần thần, rồi bừng sáng ý nghĩ. Trong tâm trí anh, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng phấp phới hiện ra như báo hiệu một lối thoát, một con đường mới. Kim Lân đã khéo léo gieo vào đoạn kết niềm hy vọng: dù đói rét, khổ đau, nhưng những con người ấy vẫn hướng về cách mạng, về tương lai đổi đời.
Truyện ngắn Vợ nhặt là khúc nhạc vừa bi thương vừa chan chứa tình người. Qua nhân vật Tràng, đặc biệt trong buổi sáng đầu tiên có vợ, Kim Lân đã làm nổi bật phẩm chất nhân văn của con người ngay trong cảnh ngộ bi đát nhất. Tràng đã thay đổi: từ vô tư lự thành người đàn ông có trách nhiệm, khao khát hạnh phúc gia đình, và thấp thoáng trong đó là sự thức tỉnh ý thức cách mạng.
Bằng tài nghệ miêu tả tinh tế, đặc biệt qua diễn biến tâm lý nhân vật giản dị mà sâu sắc, Kim Lân không chỉ tái hiện chân thực hiện thực xã hội đen tối năm 1945, mà còn khắc họa vẻ đẹp lặng lẽ mà kiêu hãnh của con người Việt Nam: dù khổ đau đến mấy, họ vẫn đau đáu một niềm tin vào sự sống, vào tương lai. Chính điều đó đã làm Vợ nhặt trở thành tác phẩm bất hủ trong lòng bao thế hệ độc giả.
