Đề bài: Phân tích nhân vật Điền và Hộ trong hai đoạn trích Đời thừa và Nước mắt
Dàn ý Phân tích nhân vật Điền và Hộ trong hai đoạn trích Đời thừa và Nước mắt
I. Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận
Mở bài:
– Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học 1930-1945. Ông thường viết về những thứ bình thường nhưng có ý nghĩa triết lí nhân sinh sâu sắc, thể hiện tình yêu thương vô hạn với những kiếp người đau khổ trong xã hội cũ. Truyện ngắn Đời thừa và Nước mắt là những truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông.
– Điền và Hộ là những người trí thức nghèo với gánh nặng áo cơm, qua đó đã làm nổi bật nên tấn bi kịch của người trí thức trong xã hội cũ
II. Thân bài:
Nhân vật Điền
– Tình huống:
Nam Cao đã đặt nhân Điền vào tình huống khiến Điền phải nóng giận, bực tức: Điền đi nhận lương, có một tờ tiền bị rách, Điền chẳng những không đổi được mà còn làm mất luôn tờ tiền đó. Vì nghèo, khổ, mất tiền, Điền sinh ra tiếc, rồi bực mình. Về nhà lại nghe vợ càu nhàu do quên mua thuốc cho con, Điền càng thêm cáu gắt, trút bực tức lên vợ con mình.
– Vẻ đẹp nhân vật Điền:
+ Điền là người có thương vợ, thương con: Anh nhịn ăn, nhịn tiêu, không dám mua sách, mua áo để lấy tiền cho vợ con; anh thương con bé Hường bị ốm, ôm nó vào lòng, quạt cho nó; anh thấu hiểu cho sự khó tính, hay cằn nhằn của vợ…
+ Điền là người nhân hậu, bao dung: Biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác để thấu hiểu cho vợ, cho con gái, cho ông ký ở nhà dây thép.
+ Điền là người trí thức có ý thức phản tỉnh cao, luôn nghiêm khắc với bản thân: Từ chỗ ích kỉ trong suy nghĩ, giận dỗi với mọi người, anh dần tự xem xét để nhận ra lỗi sai của mình, để có cái nhìn nhân ái hơn.
– Đặc biệt, truyện mang đến thông điệp về đôi mắt tình thương: Người ta chỉ xấu xa trong đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ. Mỗi người cần có đôi mắt tình thương khi nhìn đời, nhìn người – tức là đặt mình vào hoàn cảnh người khác; nhìn bằng đôi mắt cảm thông, thấu hiểu, có như vậy mới yêu thương và trân trọng cuộc đời, con người.
Nhân vật Hộ
– Tình huống: Hộ là một nhà văn nghèo có lương tâm và có tài. Khi chưa có vợ con “với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiểm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ”. Nhưng từ khi “đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn”, với một bầy con thơ “nhiều đen, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc”, thì Hộ đã rơi vào tấn bi kịch ghê gớm, bị cái nợ áo cơm ghì sát đất! Hộ cứ luẩn quẩn mãi trong bao nỗi khổ tâm “thứ nhất con đói, thứ hai nợ đòi, thứ ba nhà dột” như dân gian đã nói.
– Vẻ đẹp nhân vật Hộ:
+ Hộ là một con người giàu tình thương: Hộ đã hành động một cách cao đẹp là nuôi Từ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ.
+ Hộ là một nhà văn trải qua một bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng:
++ Anh mang trong mình hoài bão lớn nhưng vì gánh nặng áo cơm Hộ cho in cuốn văn vội, anh xấu hổ khi đọc lại văn mình, tự xỉ vả mình là một thằng khốn nạn, là một kẻ bất lương.
++ Hộ đã tìm đến rượu để giải sầu, càng ngày hắn càng lún sâu vào bi kị say rượu và đối xử vũ phu với vợ con. Tỉnh rượu lại bẽn lẽn xin lỗi Từ, hứa chừa rượu, được một thời gian ngắn, lại say, lại đánh vợ, những trò vừa buồn cười, vừa đáng sợ như lần trước.
++ Và hắn khóc… Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở… Rồi hắn tự lên án mình chỉ là một thằng… khốn nạn!
++ Và câu hát ru còn thấm lệ của Từ như tô đậm thêm bi kịch của Hộ, của hai vợ chồng. Nỗi đau ấy được cực tả qua câu hát cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thương. Tiếng khóc của Hộ, tiếng khóc của Từ mang ý nghĩa tố cáo cái xã hội tàn ác đã cướp đi mọi ước mơ, đã đày đọa cuộc sống của mỗi gia đình, đã đầu độc tâm hồn con người và làm méo mó mối quan hệ vốn tốt đẹp giữa người với người.
++ Cũng qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã thể hiện ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, vừa sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy nghĩ đằm thắm yêu thương. Nghệ thuật phân tích nội tâm nhân vật cho người đọc vô cùng thấm thía về bi kịch của một tri thức nghèo, của một nhà văn nghèo trong xã hội cũ.
So sánh:
– Giống: Cả 2 đều là những người mang danh trí thức nhưng thực chất nghèo khổ, cơ cực, bị gánh nặng áo cơm “ghì” sát đất. Nhưng cả 2 đều là những người có có vẻ đẹp đáng trân trọng, được khắc hoạ bằng những chi tiết chân thực: đặc biệt là chi tiết giọt nước mắt cuối truyện.
– Khác:
+ Hộ vì lẽ sống tình thương mà cứu vớt cuộc đời Từ, nhưng cuối cùng chính anh lại chà đạp nên lẽ sống của mình, rồi Hộ lại day dứt lương tâm, hối hận đến đau đớn. Đó là cái đau đớn của sự tha hóa. Đêm về, khi Hộ đã tỉnh rượu và tỉnh ngộ, Hộ đã có sự bừng tỉnh của lương tâm và lương tri. Đó là sự bừng tỉnh của phần người trong con người. Nhìn người vợ đáng thương với cái dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não, “Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc… Ôi chao ! Hắn khóc ! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc.” Đó là lúc Hộ đẹp nhất, là lúc con người lương tri, con người lương tâm thức tỉnh. Chuyện kết thúc nhưng cuộc đời Hộ chưa khép lại. Cảnh cuối cùng với những giọt nước mắt Hộ đã làm người đọc ít nhiều hy vọng nó sẽ thanh lọc tâm hồn, nâng đỡ nhân cách của anh, giữ anh lại trước vực thẳm sa ngã.
+ Điền không hoàn hảo, có những lúc cũng ích kỉ, gia trưởng, hẹp hỏi, thô lỗ. Nhưng vượt lên tất cả, Điền đã tự đấu tranh với chính phần “con” trong mình để vươn tới một lối sống nhân hậu, giàu tình thương hơn. Và ở Điền cong cho thấy: người ta chỉ xấu xa trong đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ. Mỗi người cần có đôi mắt tình thương khi nhìn đời, nhìn người – tức là đặt mình vào hoàn cảnh người khác; nhìn bằng đôi mắt cảm thông, thấu hiểu, có như vậy mới yêu thương và trân trọng cuộc đời, con người.
– Đánh giá
Cả hai truyện đều viết viết về đề tài người trí thức. Tuy cùng viết về bi kịch, nỗi khổ và nhân cách người trí thức nhưng mỗi tác phẩm có cách xử lí chủ đề độc đáo: ở “Nước mắt” là đi sâu vào vấn đề cách nhìn đời, nhìn người, “Đời thừa” là sống mà không thể cảm nhận sự sống, tồn tại mà không mang ý nghĩa, không để lại dấu ấn.
III. Kết bài:
“Nước mắt” và “Đời thừa” là những truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách của Nam Cao: từ lựa chọn đề tài, chủ đề đến cách kể truyện và ngôn ngữ độc đáo. Tác phẩm mang giá trị hiện thực, nhân đạo và chiều sâu triết lí nhân văn.
Bài văn mẫu Phân tích nhân vật Điền và Hộ trong hai đoạn trích Đời thừa và Nước mắt
Nam Cao bước vào văn học Việt Nam giai đoạn 1930–1945 như một nhà văn hiện thực đặc biệt: không ồn ào hô hào, không dựng lên những xung đột kịch tính bề mặt, mà lặng lẽ đi sâu vào những vùng tối nhất của đời sống tinh thần con người. Ông viết về cái đói, cái nghèo, cái nhục nhằn, nhưng điều khiến trang văn Nam Cao trở nên day dứt lâu dài chính là cách ông soi chiếu bi kịch nhân cách, bi kịch lương tâm của con người trong xã hội cũ. Trong mảng đề tài người trí thức nghèo, hai truyện ngắn Đời thừa và Nước mắt là những tác phẩm tiêu biểu, kết tinh rõ nét phong cách nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Nhân vật Hộ và Điền – hai trí thức nghèo bị gánh nặng áo cơm ghì sát đất – không chỉ đại diện cho số phận một tầng lớp xã hội mà còn là những chân dung tinh thần ám ảnh, qua đó Nam Cao đặt ra những câu hỏi nhức nhối về lẽ sống, về tình thương, về cách nhìn người, nhìn đời.
Điền trong Nước mắt xuất hiện trong một tình huống đời thường đến tầm thường, nhưng chính sự tầm thường ấy lại là nơi Nam Cao phơi mở chiều sâu tâm lý con người. Một tờ tiền rách không đổi được, rồi lại đánh mất; một người đàn ông nghèo đi nhận lương mà trở về tay trắng; một người cha quên mua thuốc cho con ốm… Chuỗi sự việc nhỏ bé ấy dồn ép Điền đến trạng thái căng thẳng, bực bội. Nghèo đói khiến anh tiếc tiền, tiếc đến xót ruột; áp lực cơm áo khiến anh cáu gắt; và trong cơn u uất ấy, Điền trút giận lên chính những người thân yêu nhất của mình – vợ và con. Nam Cao không né tránh khi miêu tả những khoảnh khắc xấu xí ấy của con người. Điền có lúc ích kỉ, hẹp hòi, thô lỗ, gia trưởng. Nhưng nhà văn không dừng lại ở việc kết tội. Ông đặt nhân vật vào trạng thái tự vấn, tự soi xét, để từ đó vẻ đẹp nhân cách của Điền lặng lẽ hiện lên.
Bởi sâu thẳm bên trong những cơn cáu giận là một trái tim đầy yêu thương. Điền là người chồng, người cha biết hi sinh: anh nhịn ăn, nhịn tiêu, không dám mua sách, mua áo mới để dành tiền lo cho vợ con; anh thương con bé Hường ốm yếu, ôm con vào lòng, quạt cho con ngủ; anh hiểu và thông cảm cho sự cằn nhằn, khó tính của vợ – một người đàn bà cũng đang bị cái nghèo bào mòn từng ngày. Điền còn là người biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác: anh nghĩ đến ông ký nhà dây thép, nghĩ đến những nỗi khổ không tên của người đời để tự điều chỉnh cách nhìn của mình. Đặc biệt, Điền là một trí thức có ý thức phản tỉnh cao. Sau cơn giận dữ, anh dằn vặt, tự trách, tự xấu hổ với chính mình. Từ chỗ chỉ nhìn thấy nỗi khổ của bản thân, Điền dần học cách mở rộng cái nhìn, để nhận ra rằng sự khắc nghiệt của đời sống đã khiến ai cũng trở nên khó chịu, cáu kỉnh. Chính trong quá trình tự đấu tranh ấy, nhân cách của Điền được thanh lọc.
Thông điệp lớn nhất mà Nước mắt gửi gắm qua nhân vật Điền là bài học về “đôi mắt tình thương”. Nam Cao viết: con người chỉ trở nên xấu xa trong đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ. Khi biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác, biết nhìn đời bằng sự cảm thông, thấu hiểu, con người sẽ bớt tàn nhẫn với nhau hơn. Giọt nước mắt cuối truyện không chỉ là nước mắt của riêng Điền, mà là giọt nước mắt của sự thức tỉnh nhân tính, của khả năng cứu rỗi con người bằng lòng nhân hậu.
Nếu Điền đại diện cho bi kịch cách nhìn đời, thì Hộ trong Đời thừa lại là hiện thân của một bi kịch tinh thần sâu sắc và đau đớn hơn: bi kịch của người nghệ sĩ có hoài bão nhưng bị hiện thực tàn nhẫn nghiền nát. Hộ là một nhà văn nghèo, có tài, có lương tâm nghề nghiệp. Khi còn sống một mình, với “cách viết thận trọng”, Hộ chỉ kiếm đủ để sống eo hẹp, nhưng anh vẫn giữ được lý tưởng nghệ thuật. Bi kịch bắt đầu khi Hộ “ghép đời Từ vào cuộc đời hắn”, gánh trên vai trách nhiệm với vợ, với bầy con thơ “nhiều đẹn, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc”. Cái đói, cái nợ, căn nhà dột nát… như những gọng kìm siết chặt, đẩy Hộ vào vòng luẩn quẩn của tuyệt vọng.
Hộ là một con người giàu tình thương. Anh đã cứu vớt cuộc đời Từ bằng một hành động cao đẹp: cưu mang, che chở, nuôi dưỡng cả mẹ già lẫn con dại của Từ. Nhưng chính lẽ sống tình thương ấy lại trở thành nguồn gốc cho bi kịch lớn nhất của Hộ. Không còn đủ điều kiện để viết những tác phẩm xứng đáng với hoài bão, Hộ cho in những cuốn văn vội vàng, nhạt nhẽo. Khi đọc lại văn mình, anh xấu hổ, khinh bỉ bản thân, tự xỉ vả mình là “một thằng khốn nạn”, “một kẻ bất lương”. Bi kịch của Hộ không chỉ là nghèo đói, mà là cảm giác sống thừa, tồn tại mà không để lại dấu ấn, sống mà không thực sự được sống đúng với bản chất và lý tưởng của mình.
Trong cơn tuyệt vọng, Hộ tìm đến rượu. Rượu không giải thoát mà chỉ làm bi kịch thêm trầm trọng. Hộ trở nên vũ phu, thô bạo với chính người vợ mà anh từng yêu thương và hi sinh vì cô. Những cơn say lặp đi lặp lại như một vòng xoáy: say – đánh vợ – tỉnh rượu – hối hận – xin lỗi – hứa chừa – rồi lại say. Nam Cao miêu tả những cảnh ấy bằng giọng văn lạnh lẽo mà đau đớn, khiến người đọc vừa phẫn nộ, vừa xót xa. Đỉnh điểm của bi kịch là tiếng khóc. “Và hắn khóc… Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở…” Nước mắt của Hộ bật ra “như nước một quả chanh bị bóp mạnh” – thứ nước mắt mặn chát của sự tự lên án, của lương tri thức tỉnh. Bên cạnh đó là tiếng ru con thấm đẫm nước mắt của Từ, khiến nỗi đau gia đình nhỏ bé ấy trở thành một bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội thực dân phong kiến đã đầu độc tâm hồn con người, làm méo mó những mối quan hệ vốn tốt đẹp.
Qua nhân vật Hộ, Nam Cao thể hiện ngòi bút hiện thực sắc lạnh nhưng thấm đẫm nhân đạo. Ông không che giấu cái xấu, cái đê tiện trong con người, nhưng cũng không bao giờ tuyệt tình. Cảnh kết với những giọt nước mắt của Hộ không khép lại cuộc đời nhân vật, mà mở ra một tia hi vọng mong manh: sự bừng tỉnh của lương tâm, của phần người còn sót lại trong con người. Chính khoảnh khắc ấy là lúc Hộ đẹp nhất – đẹp trong đau đớn, trong dằn vặt, trong khát vọng được làm người đúng nghĩa.

So sánh Điền và Hộ, có thể thấy cả hai đều là trí thức nghèo, đều bị gánh nặng áo cơm đè nặng, đều rơi vào bi kịch tinh thần. Cả hai đều có những khoảnh khắc xấu xí, đáng trách, nhưng cũng đều mang trong mình những vẻ đẹp nhân cách đáng trân trọng. Giọt nước mắt ở cuối mỗi truyện là chi tiết nghệ thuật giàu sức gợi, kết tinh tư tưởng nhân đạo của Nam Cao: con người có thể sa ngã, có thể lầm lạc, nhưng khi còn biết khóc vì lỗi lầm của mình, khi còn biết đau vì nhân phẩm bị tổn thương, thì vẫn còn khả năng cứu rỗi.
Điểm khác biệt nằm ở cách mỗi nhân vật đối diện với bi kịch. Hộ là bi kịch của sự tha hóa gắn với lý tưởng nghệ thuật: anh cứu người bằng tình thương nhưng lại chà đạp chính lẽ sống ấy, rồi dằn vặt, tự lên án mình đến đau đớn. Điền thì gần với đời sống thường nhật hơn: anh không có hoài bão nghệ thuật lớn, nhưng lại có cuộc đấu tranh âm thầm để vượt qua phần “con” ích kỉ trong mình, hướng tới một lối sống nhân hậu hơn. Nếu Đời thừa đặt ra câu hỏi nhức nhối về ý nghĩa tồn tại của con người, thì Nước mắt lại nhấn mạnh đến cách nhìn đời, nhìn người bằng đôi mắt tình thương.
Cả hai tác phẩm, dù tiếp cận từ những góc độ khác nhau, đều gặp nhau ở chiều sâu nhân văn. Nam Cao không chỉ phản ánh hiện thực xã hội tàn khốc, mà còn đi sâu khám phá thế giới nội tâm phức tạp của con người, để từ đó khẳng định giá trị của lương tri, của tình thương. Đời thừa và Nước mắt vì thế không chỉ là những truyện ngắn viết về người trí thức nghèo, mà còn là những bản tự vấn lớn về nhân cách, về cách làm người trong một xã hội phi nhân tính.
Khép lại hai truyện ngắn, người đọc không chỉ mang theo nỗi ám ảnh về cái nghèo, cái khổ, mà còn mang theo một niềm tin mong manh nhưng bền bỉ: trong tận cùng của đau khổ, con người vẫn có thể tìm thấy ánh sáng của nhân tính. Đó chính là giá trị lớn lao làm nên sức sống lâu bền cho văn chương Nam Cao – một thứ văn chương “đau đớn nhưng không tuyệt vọng”, “lạnh lùng mà chan chứa yêu thương”.
