Phân tích vẻ đẹp bình dị và ý nghĩa nhân văn của chợ quê trong đoạn trích Chợ bên đường của Nguyễn Ngọc Tư

Bình chọn

Đề bài: Viết bài văn nghị luận (600 chữ) phân tích vẻ đẹp bình dị và ý nghĩa nhân văn của chợ quê trong đoạn trích Chợ bên đường của Nguyễn Ngọc Tư.

CHỢ BÊN ĐƯỜNG

(Nguyễn Ngọc Tư)

Giống như đống lửa rơm nghi ngút khói bên đường, những cái chợ nhỏ làm ấm lòng kẻ rong ruổi trên những con đường đầy bụi và sương, nắng và gió.

[…]

Chợ lúc nào cũng nhóm ngay đầu cầu, trước cơ quan xã hay đầu cống đá vào xóm kinh. Như người phụ nữ chân quê, chợ nhỏ nhoi, hiền hậu, trầm tính dịu dàng. Mấy rổ hàng con con, mươi người phụ nữ tay lấm áo lem ngồi với nhau là thành chợ, đông nữa, hai ba mươi người cũng gọi là chợ. Không cần lặn lội khuya lơ khuya lắc như đi chợ thị xã, cứ chờ cho sáng ra bắc nồi cơm lên bếp cái đã, rồi đủng đỉnh xách hàng ra chợ. Đã hiểu nhau về hết thảy nỗi nhọc nhằn nên người mua không nặng nề mặc cả bon chen, người bán cũng chẳng đanh đá chua ngoa như kẻ chợ, hình như chợ họp chỉ để trao đổi, san sẻ với nhau những gì mình có. Bán đi những trái dừa khô để mua lại mớ rau càng cua về trộn dầu giấm chấm mắm kho. Bán mấy trái khổ qua đắng để mua ít đỉnh cải bẹ xanh về nấu với mớ cá rô mề mới giăng lưới được sáng nay. Cả cá, cả rau, cả trái đều bán theo mớ, hiếm hoi lắm có dì có được cây cân đòn loại 12 kg, trái cân lò dò đặt lên cái đòn đã mòn những khía, tỏ con mắt cũng không biết số ký nằm đâu. Ôi, có hề gì chuyện nặng nhẹ đong đo, lòng người ta tin nhau đầy ắp kia mà. Buổi sáng sao mà dậy mùi thơm nồng hăng của rau húng lủi, húng cây, rau cần nước, cần rừng. Bày ra đó, không phải chăm chăm trông chừng hàng hoa, chị em chụm lại rôm rả với nhau chuyện chồng con, chuyện làng xóm, ruộng lúa, vườn cây,… (chuyện xóm quê mà, nói biết chừng nào cho hết). Thành ra chợ không chỉ bán gà, bán cá, bán rau củ trong vườn nhà mà còn gửi gắm thông tin cho nhau nên chợ ít người mà vui, mà thắm đượm nghĩa tình cũng vì lẽ đó.

Chợ không chỉ độc đáo vì bản sắc bình dị, nó còn độc đáo ở những mặt hàng mà nó bày ra. Thì mớ tép rong ôm một bụng trứng xanh rờn còn ướt rượt nước mới cất vó từ dưới kinh lên đó; thì mớ cá lòng tong, lìm kìm, cá mè con con nhảy tung nhảy toé, nhảy đến tróc lớp vảy óng ánh ra; thì kìa, rổ trái giác trái tròn tròn, bóng mẩy như viên đạn cu ly(1); rồi những cọng năng trắng muốt thơm ngai ngái mùi bùn, mùi nước trên đồng ;… Những thứ này, ở thành phố có thèm cũng chịu thua, có lang thang hết chợ này sang chợ khác tìm kiếm tảo tần chưa chắc có. Trên những con đường còn lơ thơ nhà, lơ thơ hàng quán, đi một đoạn xa ơi là xa, thèm hơi người thì gặp chợ, hỏi làm sao không vui. (…) Bây giờ có kéo nhau xuống đập dưới kia mà nhóm chợ, anh bạn mình làm sao mà trông được cái cổ cao cao, cái cười giòn tan, tươi tắn của cô nhỏ bán hàng, rồi nhớ hoài, nghe ngọt ngào hoài? Thì ra giữa những quãng đường xa ngái, chợ còn có nhiệm vụ là nhóm lên một bếp lửa đời, cho cuộc hành trình bớt xa đi.

Tôi lần nào qua chợ cũng giật mình, làm như gặp lại người nào đó, mà lâu lắm rất quen nhau. Hình như má, hình như chị, mà hình như giống hệt mình đang ngồi đó, quanh mình ngọt ngào buổi sớm mai trong.

(“Chợ bên đường” – Nguyễn Ngọc Tư, in trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, TP.HCM, 2020)

Phân tích vẻ đẹp bình dị và ý nghĩa nhân văn của chợ quê trong đoạn trích Chợ bên đường của Nguyễn Ngọc Tư

Bài làm Phân tích vẻ đẹp bình dị và ý nghĩa nhân văn của chợ quê trong đoạn trích Chợ bên đường của Nguyễn Ngọc Tư

A. Yêu cầu

– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

– Xác định đúng vấn đề nghị luận: vẻ đẹp bình dị và ý nghĩa nhân văn của chợ quê trong đoạn trích “Chợ bên đường” của Nguyễn Ngọc Tư.

– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận

B. Hướng dẫn gợi ý

I. MỞ BÀI

  • Nguyễn Ngọc Tư là cây bút đậm phong vị Nam Bộ, nổi tiếng với giọng văn mộc mạc, chân chất nhưng sâu sắc và giàu cảm xúc nhân văn.

  • Chợ bên đường là một trong những đoạn tạp văn giàu chất thơ, ghi lại hình ảnh những phiên chợ nhỏ ven đường với tất cả sự thân thuộc của đời sống quê.

  • Đoạn trích làm nổi bật vẻ đẹp bình dị và ý nghĩa nhân văn sâu xa của chợ quê, nơi lưu giữ hồn vía của làng xóm và hơi ấm của tình người.

Trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại, Nguyễn Ngọc Tư là gương mặt tiêu biểu với lối viết chân thực, giản dị, giàu cảm xúc. Những trang tạp văn của chị thường ghi lại những nét đẹp bình dị của đời sống Nam Bộ, để từ đó khơi dậy tình yêu quê hương, niềm tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc. Đoạn trích “Chợ bên đường” là một minh chứng tiêu biểu, khắc họa vẻ đẹp mộc mạc của chợ quê và ý nghĩa nhân văn sâu lắng mà nó mang lại.

II. THÂN BÀI

1. Vẻ đẹp bình dị của chợ quê

a. Không gian chợ nhỏ bé, đơn sơ mà thân thương

  • Chợ họp ngay đầu cầu, đầu xóm, ven cơ quan xã – vị trí gần gũi, quen thuộc với đời sống người dân.

  • Quy mô khiêm tốn: “mấy rổ hàng con con”, “mươi người phụ nữ” đã đủ thành chợ → thể hiện sự mộc mạc, giản đơn của một không gian sinh hoạt dân dã.

b. Hàng hóa đậm chất quê, tươi ngon và thuần khiết

  • Những sản vật quê: tép rong còn ôm bụng trứng, cá lòng tong, cá lìm kìm, trái giác, cọng năng trắng muốt…

  • Những thức quà này gợi hương vị chân chất của ruộng đồng, của sông rạch Nam Bộ – điều mà chợ thành phố không bao giờ có.

c. Nếp sống chân thành, mộc mạc của người dân

  • Người đi chợ không cần vội vã, không phải dậy sớm lặn lội.

  • Mua bán nhẹ nhàng, không bon chen, không mặc cả: bán – mua như một cách san sẻ, trao đổi tình thương.

  • Niềm tin giữa con người với nhau “đầy ắp”, hơn cả những cây cân đã cũ.

2. Ý nghĩa nhân văn sâu sắc của chợ quê

a. Chợ là nơi kết nối, bồi đắp tình làng nghĩa xóm

  • Chợ không chỉ bán hàng, mà còn là nơi “gửi gắm thông tin”, nơi chị em trò chuyện chuyện nhà cửa, ruộng vườn.

  • Sự gắn bó, sẻ chia khiến chợ ít người mà ấm áp, chan chứa nghĩa tình.

b. Chợ đem đến hơi ấm cho những kẻ lữ hành

  • Với kẻ rong ruổi, chợ giống “đống lửa rơm nghi ngút khói”, làm ấm lòng người trên những con đường nhiều bụi và gió.

  • Chợ như “bếp lửa đời” giữa những chặng đường xa, làm hành trình bớt trống vắng, bớt mệt mỏi.

c. Chợ khơi gợi ký ức, đánh thức tình yêu quê hương

  • Nhìn chợ, nhân vật “tôi” thấy bóng dáng má, dáng chị, và cả chính mình trong buổi sớm trong veo.

  • Chợ là nơi lưu giữ ký ức, nuôi dưỡng tình cảm gia đình, quê hương – giá trị nhân văn bền sâu của đời sống nông thôn.

3. Nghệ thuật đặc sắc

  • Ngôn ngữ mộc mạc nhưng giàu chất thơ, giàu sức gợi.

  • Giọng văn ấm áp, hoài niệm, đậm phong vị Nam Bộ.

  • Sự kết hợp tinh tế giữa miêu tả, kể chuyện và biểu cảm.

  • Chi tiết đời thường được sử dụng chân thực nhưng giàu sức lay động.

III. KẾT BÀI

  • Đoạn trích Chợ bên đường làm hiện lên một chợ quê nhỏ nhưng giàu vẻ đẹp giản dị và chứa chất giá trị nhân văn sâu sắc.

  • Chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là nơi nhen lên ngọn lửa tình người, lưu giữ bản sắc văn hóa và nuôi dưỡng tâm hồn người quê.

  • Qua đó, văn Nguyễn Ngọc Tư nhắc nhở ta trân trọng những nét đẹp bình dị của đời sống quê hương – những điều làm nên cốt cách và hồn vía Việt Nam.

Tác phẩm “Chợ bên đường” không chỉ khắc họa vẻ đẹp bình dị của chợ quê, mà còn gửi gắm ý nghĩa nhân văn: tình người, cội nguồn, niềm tin và sự gắn bó. Từ trang viết của Nguyễn Ngọc Tư, ta càng thêm trân trọng những giá trị giản dị mà bền lâu của quê hương. Bởi giữa guồng quay hối hả của đời sống hiện đại, những phiên chợ quê vẫn là “ngọn lửa ấm” để ta trở về, tìm lại sự thân thương, bình yên trong tâm hồn mình.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *