Đề bài: Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản Gọi con của Bảo Ninh
GỌI CON (trích)
(Bảo Ninh)
(Lược một đoạn: Anh trai, chị gái và Tân đều lên đường đi du học nước ngoài. Chỉ có Nghĩa, cậu em út, xung phong đi bộ đội dù anh đỗ ĐH Bách Khoa và mặc cho người cha ngăn cản. Từ khi Nghĩa lên đường, bà mẹ thường xuyên viết thư đến địa chị một hòm thư để gửi cho Nghĩa tuy nhiên thư viết đi bao nhiêu lại bị trả về nguyên vẹn bấy nhiêu. Mãi sau này khi người mẹ mất, Tân mang chiếc rương cũ về mở ra mới biết trong đó là những kỉ vật một thời, đặc biệt là những bức thư chưa bao giờ được mở mà người mẹ viết gửi cho Nghĩa – người con đi chiến đấu đã mãi mãi không trở về.)
Tất cả đều bị gửi ngược về hoàn trả, nhưng mẹ vẫn nhẫn nại viết và nhẫn nại gửi cầu may tới cái hòm thư đã hoang phế đó. Mấy bức đầu mẹ anh viết ngắn như là viết vội để gửi đi gấp. Không viết gì nhiều, những thư ấy chỉ hối Nghĩa mau biên thư về cho cha mẹ hay số hòm thư mới với lại hiện đang ở đâu, sức khoẻ thế nào. Nhưng theo dần năm tháng chiến tranh, thư của mẹ ngày một nhiều trang hơn và ngày một buồn bã hơn. Gửi đi bao nhiêu nhận lại bấy nhiêu, những lá thư của mẹ càng về sau càng như nhật ký, như là để gửi tới chính mình. Chữ mẹ nắn nót, dễ đọc dẫu mầu mực đã phai, dòng nối dòng đều đều, miên man che giấu niềm vô vọng. Mẹ kể rằng đêm qua mẹ nhìn thấy Nghĩa nhưng chưa kịp gọi thì đã tỉnh, tỉnh dậy thì đã chẳng còn lại gì, chẳng níu giữ được gì nữa cả, trong phòng tối đen, ngoài trời còi báo động hú vang. […]
Tất cả những điều ấy chưa từng bao giờ mẹ viết trong thư gửi ra nước ngoài cho Tân và anh chị của anh. Sau này cũng không bao giờ kể ra lời. Vậy mà bây giờ nhận lấy chiếc rương này thì câu chuyện dài triền miên đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác mẹ đã kể với người con út, Tân lại phải đón lấy. “Khổ thân các con sinh ra gặp thời loạn lạc…”, lá thư ấy mẹ viết vào ngày cuối tháng Chạp năm 72. Đất trời bùng cháy, thành phố đổ vỡ, nhưng mẹ không rời Hà Nội. Hơi bom phá toang cửa kính, mẹ vẫn đêm đêm yên lặng ngồi chỗ ngày trước cha vẫn thường ngồi, và vẫn như hồi cha còn sống, mẹ pha một ấm trà để lên khay trên bàn giữa hai cái tách hạt mít… Trước kia, đối với mẹ, sinh con trai con gái đều quý. Nhưng bây giờ nhìn cảnh bom đạn mù trời, mẹ nghĩ giá hồi đó con sinh ra được mang phận con gái thì hơn. Thời loạn thân gái cũng chẳng sướng gì, nhưng dù sao nếu phận gái thì chắc không đến nỗi bây giờ con biệt âm vô tín. Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi?”.
Nghĩa ơi! Tiếng gọi ấy là lời cuối của lá thư cuối cùng mẹ của Tân viết gửi người con trai út. Không còn lá thư nào viết vào những ngày tháng sau đó nữa. Có lẽ vì sau đó là năm 73, hòa bình. Anh chị em Tân lần lượt đỗ đạt trở về.
Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn bao bà mẹ khác. Nào ngờ mẹ không hề biết thế là hạnh phúc. Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới.
(Gọi con, Bảo Ninh, nhandan.vn, ngày 19/8/2005)

Bài làm Phân tích văn bản Gọi con của Bảo Ninh
A. Yêu cầu
– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.
– Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Gọi con” của Bảo Ninh.
– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.
B. Hướng dẫn
* Mở bài:
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Bảo Ninh – cây bút tiêu biểu viết về chiến tranh và hậu quả chiến tranh. Gọi con là một trong những sáng tác giàu cảm xúc, khắc họa sâu sắc hình tượng người mẹ Việt Nam thời chiến.
– Nêu vấn đề nghị luận: Đoạn trích Gọi con đã tái hiện vẻ đẹp tâm hồn, tình mẫu tử thiêng liêng, sự hi sinh thầm lặng của người mẹ có con ra trận.
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Bảo Ninh được xem là một trong những cây bút xuất sắc viết về chiến tranh và những tổn thương tinh thần mà nó để lại cho con người. Nếu Nỗi buồn chiến tranh khắc sâu nỗi ám ảnh và cô đơn của người lính sau chiến tranh, thì đoạn trích Gọi con lại mở ra một góc nhìn khác bi thương mà lặng lẽ – về người mẹ có đứa con ra trận không bao giờ trở về. Qua câu chuyện ấy, Bảo Ninh không chỉ kể lại một mất mát riêng, mà còn khắc họa hình tượng người mẹ Việt Nam thời chiến: âm thầm, kiên cường, giàu đức hy sinh và chan chứa tình yêu thương vô bờ.
* Thân bài:
1. Khái quát về đoạn trích
– Bối cảnh: Gia đình có nhiều con, trong đó Nghĩa – người con út – đi bộ đội và mãi mãi không trở về.
– Nội dung chính: Những lá thư người mẹ viết gửi con nhưng đều bị trả lại; trong thư chứa chan tình thương, niềm mong đợi vô vọng.
– Ý nghĩa: Khắc họa nỗi đau, tình thương và phẩm chất cao đẹp của người mẹ.
2. Phân tích hình tượng người mẹ
a. Tình yêu thương con vô bờ bến
– Viết thư liên tục dù biết thư sẽ bị trả lại → sự kiên trì, hi vọng mong manh.
– Nội dung thư ban đầu ngắn gọn, sau dần dài hơn, buồn bã hơn → phản ánh diễn biến tâm trạng ngày càng nặng nề.
– Trong thư bà kể cả giấc mơ, niềm mong nhớ con → chứng tỏ con luôn ở trong tâm tưởng.
– Tiếng gọi “Nghĩa ơi!” tha thiết, đau đớn, trở thành lời trăn trối gửi vào vô vọng.
b. Giàu đức hi sinh, cam chịu
– Không để các con ở xa lo lắng, mẹ giấu kín mọi đau khổ, không kể ra cho ai.
– Gánh chịu nỗi đau riêng, đến tận khi qua đời vẫn âm thầm chờ đợi.
– Hình ảnh khuôn mặt lặng lẽ, rụt rè, suốt đời sống trong chờ mong vô vọng → biểu tượng cho sự hi sinh thầm lặng.
c. Biểu tượng của người mẹ Việt Nam thời chiến
– Đại diện cho hàng triệu bà mẹ có con đi chiến trận, mang trong mình nỗi đau mất mát.
– Vẻ đẹp: giàu yêu thương, vị tha, bền bỉ, bất diệt.
3. Nghệ thuật đặc sắc
– Điểm nhìn trần thuật dịch chuyển (từ cái nhìn của Tân đến tái hiện lại những lá thư của mẹ).
– Ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc, gần gũi với giọng kể tâm tình.
– Diễn biến tâm trạng nhân vật được khắc họa chân thực, xúc động.
4. Ý nghĩa và giá trị nhân văn
– Ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng.
– Tố cáo nỗi đau chiến tranh gây ra cho những người ở hậu phương.
– Khơi gợi sự đồng cảm, trân trọng đối với hi sinh của thế hệ đi trước.
* Kết bài:
– Khẳng định: Hình tượng người mẹ trong Gọi con của Bảo Ninh là biểu tượng tiêu biểu cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam thời chiến – yêu thương con vô hạn, hi sinh thầm lặng, giàu đức hi sinh.
– Mở rộng: Đoạn trích không chỉ làm ta xúc động về tình mẹ mà còn nhắc nhở mỗi người biết sống biết ơn, trân trọng hòa bình và gia đình hôm nay.
Có thể nói, hình tượng người mẹ trong Gọi con không chỉ là nỗi đau của một cá nhân mà còn là biểu tượng thiêng liêng cho vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh giàu yêu thương, bền bỉ và lặng lẽ hi sinh. Câu chuyện giản dị mà ám ảnh ấy khiến người đọc lặng lòng suy ngẫm, để rồi thêm trân trọng những người mẹ, những người đã âm thầm gánh chịu mất mát để thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
