Phân tích ý kiến: Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo qua lời ca khúc Nhớ mùa thu Hà Nội

Bình chọn

Đề bài: Phân tích ý kiến: Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo qua lời ca khúc Nhớ mùa thu Hà Nội

Dàn ý Phân tích ý kiến: Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo qua lời ca khúc Nhớ mùa thu Hà Nội

  1. Mở bài

– Dẫn dắt vấn đề

– Nêu vấn đề, trích dẫn nhận định

  1. Thân bài

a. Giải thích:

– Nhận định của tiến sĩ Đoàn Cẩm Thi bàn về mối quan hệ giữa chức năng thẩm mỹ và phong cách sáng tác của nhà văn trong văn chương.Theo Tô Hoài: “Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống trang bản thảo do phong cách riêng của mình mà có”, mỗi trang văn còn vương lại trên trần thế là mỗi phong cách ghi tạc trăm năm.

– Cái đẹp không chỉ đơn thuần là phép cộng của những điều tươi sáng mà nó là sự thống nhất của cái chân,cái thiện, cái mỹ đúng như Nguyên Ngọc đã nói: “Đã là văn chương thì phải đẹp”.

– Văn học là lĩnh vực của cái độc đáo, mỗi tác phẩm đích thực phải là những tác phẩm được xây dựng từ ngòi bút chân chính, mới lạ và sáng tạo, nó nhất thiết phải là: “Một phát minh về hình thức, một khám phá về nội dung”. Lao động của nhà văn là lao động sáng tạo nên mỗi nhà văn phải có một giọng điệu riêng vì: “điều còn lại của mỗi nhà văn là cái giọng nói của riêng mình”. Từ cái tôi phong cách độc đáo, người nghệ sĩ từng bước khám phá chiều sâu đầy bí ẩn của tâm hồn con người và cuộc sống theo quy luật của cái đẹp.

– Cái đẹp trong tác phẩm văn học được nhà văn khơi nguồn, kết tinh từ cuộc sống luôn có sức hấp dẫn với người đọc, bồi đắp những giá trị tốt đẹp cho con người.

b. Chứng minh:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

+ Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Nhạc sĩ Văn Cao từng tâm sự “ Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra”.  Còn  nhạc sĩ  Nguyễn Xuân Khoát nhận xét “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”. Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ là ở chính chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà ở cả ngoài biên giới nữa…Trịnh Công Sơn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn yêu nhạc bao thể hệ bởi sự mượt mà, sâu lắng, dìu dặt chất trữ tình.

– Bài hát “Nhớ mùa thu Hà Nội” ra đời năm 1985 khi nhạc sĩ  vừa từ Liên Xô trở về và ở lại Hà Nội một tháng, đó là những trải nghiệm và trải lòng của một người khách lạ đặt chân đến xứ Kinh Kỳ.

Chứng minh qua “ Nhớ mùa thu Hà Nội” của Trịnh Công Sơn.

Luận điểm 1.“Cái đẹp, cái riêng, cái độc đáo” của bài thơ“ Nhớ mùa thu Hà Nội” là những dòng cảm xúc và nỗi nhớ thiết tha về một Hà Nội cổ kính, nên thơ mỗi độ thu về.

– “Nhớ mùa thu Hà Nội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ra đời trong một tháng “gặp gỡ” của những tâm hồn đồng điệu. Bài hát lấy cảm hứng chủ đạo là nỗi nhớ, khi tình yêu giữa đất và người vừa chớm nở đã phải chia xa. “Nhớ mùa thu Hà Nội”  làm người đi xa không khỏi xốn xang, người ở gần không khỏi bồi hồi vào những buổi sớm heo may trong lòng thành phố.

+ Khổ thơ đầu là nỗi nhớ về một Hà Nội mùa thu với vẻ đẹp lãng mạn, cổ kính mang đậm dấu ấn của đất Kinh kỳ xưa. Đó là một Hà Nội thật lãng mạn, mộng mơ khi mùa thu về cùng với nét trầm tư, cổ kính của “phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu” mà không nơi nào có được. Đó là nỗi nhớ về hương hoa sữa, hương cốm mới – những nét rất đặc trưng của mùa thu Hà Nội, là Hồ Tây trong một buổi chiều thu huyền ảo, khói sương lãng đãng, là tình yêu và nỗi nhớ của về con người Thủ đô trong nỗi niềm riêng “nhớ đến một người”.

Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ

Nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu.

+ Sở dĩ “Nhớ mùa thu Hà Nội” khơi gợi tình cảm thân thuộc là bởi Trịnh Công Sơn đã bắt được “thần thái” của một thủ đô cổ xưa, trầm mặc, thiêng liêng trong ký ức mọi người. Những cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu là những hình ảnh khó có thể bắt gặp ở bất cứ đâu. Nó hiển hiện trong tâm trí người yêu Hà Nội như tranh phố Phái, như cốm làng Vòng, hay những con đường hoa sữa nồng nàn tháng 10. Những dư âm, mùi vị ấy dù rất đặc trưng nhưng  không phải ai một lần ghé ngang Hà Nội cũng bắt được. Trịnh Công Sơn đã chắt lọc những phần linh hồn tinh tuý nhất của Hà Nội để đưa vào bài hát lắng sâu, dạt dào cảm xúc này.Qua nhạc phẩm, ta bắt gặp hồn thiêng núi sông ngàn năm, đồng thời hiển hiện một bức tranh mùa thu tuyệt  đep, mê đắm lòng người.

+ Trịnh Công Sơn hoài niệm vẻ đẹp ấn tượng nhất, dễ nhận thấy nhất của mùa thu Hà Nội qua màu đỏ của lá bàng, màu vàng của hàng cây cơm nguội, đặc sắc hơn nhạc sĩ  lắng hồn mình vào cái tinh vi, vô hình nhưng lại sống động của mùi hoa sữa và hương cốm thơm mỗi độ thu về. Trong khoảnh khắc giao mùa ấy, nét đặc trưng của mùa thu Hà Nội được tác giả khám phá và đưa vào ca từ các hình ảnh vô cùng mới mẻ, đậm hương sắc của mùa thu Hà Nội.

Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội

Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió

Mùa cốm xanh về thơm bàn tay nhỏ

Cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua..

+ Từng ngọn gió mùa thu thơm nồng nàn hoa sữa, từng bàn tay nhỏ nhắn thơm hương cốm xanh, ngay cả những bước chân người đi trên hè phố cũng bất giác vương vương thơm mùi cốm sữa. Xa Hà Nội, nhưng những gì thuộc về Hà Nội vẫn không rời, cứ vấn vương như một nỗi niềm, lưu luyến, chẳng nỡ rời…

+ Dạo bước trên những con đường Hà Nội nhất là Hồ Tây vào buổi chiều thu khiến hồn người lãng đãng như mơ, như ảo. Hồ Tây hiện lên huyền ảo và nên thơ như một bức tranh thủy mặc được nhà danh họa vừa phác  thảo xong. Mặt nước hồ lay động dưới ánh chiều vàng như thể đang xuyến xao, bâng khuâng,rung cảm theo tiếng mời gọi của bờ xa. Màu sương mờ lãng đãng, giăng giăng như niềm nhớ thương da diết; từng bầy sâm cầm tránh rét đang bay về hướng mặt trời tìm hơi ấm cuối thu.

 Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi

          Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời

+ Những lời ca đẹp nhất, những giai điệu xốn xang nhất của mùa thu Hà Nội đã được Trịnh Công Sơn viết nên bằng trái tim sâu nặng với đất và người nơi đây. Chẳng thế mà nỗi nhớ cứ da diết, mãnh liệt đến thế:

“…Hà Nội mùa thu, đi giữa mọi người

……………………………………….

Sẽ có một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôi…”

+ Nỗi nhớ vừa hiện hữu, vừa vô hình, không hướng về ai nhưng cũng hướng về tất cả. Mùa thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn đã khơi gợi được niềm đồng cảm của bao thế hệ người yêu nhạc. Ấn tượng về một Hà Nội trầm mặc, xưa cũ vẫn không phai mờ trong tâm trí những người gắn bó nơi đây. Mỗi độ thu về cùng gió heo may, hương cốm mới, cả một trời ký ức trong lòng những người yêu Hà Nội lại bồi hồi sống dậy. Người đi xa nhớ một Hà Nội trong ảo ảnh, hình dung. Người ở gần nhớ một Hà Nội của dĩ vãng, xa xăm.

=>Nhạc phẩm “ Nhớ mùa thu Hà Nội” làm chúng ta ngỡ ngàng khi nhận được tín hiệu tình yêu thiết tha, bỏng cháy của Trịnh Công Sơn dành cho con người nơi đây. Bắt đầu là tình yêu đối với một người khi “đi giữa mọi người”. Nỗi nhớ ở đây vừa hiện hữu, cụ thể về “một người” nhưng lại hoàn toàn vô hình, vô danh tính. Chính nét khơi gợi nhiều mông lung ấy đã được sự chia sẻ, đồng cảm của nhiều bạn đọc yêu thơ, các thế hệ yêu nhạc Trịnh Công Sơn, yêu mùa thu Hà Nội.

Luận điểm 2. .“Cái đẹp, cái riêng, cái độc đáo” trong bài thơ“ Nhớ mùa thu Hà Nội” của Trịnh Công Sơn được thể hiện qua  hình thức nghệ thuật đặc sắc:

– Nhạc phẩm sử dụng nhiều hình ảnh đặc trưng của Hà Nội,các phép điệp ngữ, điệp cấu trúc, ngôn ngữ gợi cảm… gợi lên tình cảm lưu luyến, bâng khuâng và cả nỗi nhớ thiết tha trong tâm hồn nhạc sĩ.

– Bài thơ với ngôn từ giản dị,và hình ảnh gợi cảm, lời ca mượt mà, êm ái, khi lắng đọng, lúc vút cao, khi da diết, lúc gợi nhớ gợi thương đã diễn tả tài tình thần thái của cảnh và người nơi mảnh đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến.

c. Đánh giá

– Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn. Bởi lẽ, thiên chức của nhà văn là khơi nguồn cho cái đẹp tràn vào trang viết. Từ cuộc sống đến văn học, cái đẹp vẫn luôn giữ một vai trò quan trọng, chi phối cảm quan con người. Cái đẹp từ ngoài thực tại bước vào trang văn nó đã nâng tầm lên thành giá trị thẩm  mĩ thông qua tài năng nghệ thuật riêng biệt của người nghệ sĩ. Và cái đẹp trong nhạc phẩm “ Nhớ mùa thu Hà Nội” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là “ cái mang dấu ấn của chủ thể sáng tạo, là cái riêng, cái độc đáo”.

– Bài học cho người sáng tác và người tiếp nhận:

Để mang lại cho tác phẩm một vẻ đẹp độc đáo, điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải bộc lộ, phản ánh sự sáng tạo, mới mẻ, phải có tâm huyết với nghề, với ngòi bút mới có thể viết nên những tác phẩm có giá trị sống mãi trong trái tim bạn đọc. Còn độc giả khi tiếp nhận tác phẩm cần mở lòng mình đón nhận và cảm thấu cái mạch ngầm mà nhà văn gửi gắm, để từ đó , bước vào địa hạt của cái đẹp.

  1. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề

– Liên hệ

Bài văn mẫu Phân tích ý kiến: Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo qua lời ca khúc Nhớ mùa thu Hà Nội

Văn chương, tự thuở hình thành, đã luôn song hành cùng khát vọng con người đi tìm cái đẹp – không chỉ là cái đẹp của hình thức, mà là cái đẹp của tâm hồn, của tư tưởng, của dấu ấn cá nhân không thể trộn lẫn. Trong hành trình ấy, mỗi tác phẩm đích thực đều mang theo bóng dáng riêng của người sáng tạo, như một vân tay tinh thần in hằn trên trang viết. Bởi thế, khi bàn về giá trị thẩm mĩ của văn chương, tiến sĩ Đoàn Cẩm Thi đã nhấn mạnh đến mối quan hệ sâu sắc giữa cái đẹp và phong cách sáng tác, khẳng định rằng cái đẹp trong văn chương không tồn tại như một khái niệm chung chung, vô chủ, mà chính là “cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo”. Ý kiến ấy, khi soi chiếu qua lời ca khúc Nhớ mùa thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn, càng cho thấy sức thuyết phục sâu xa: cái đẹp của văn chương – và rộng hơn là của nghệ thuật – chỉ thực sự bền lâu khi nó được sinh thành từ một cái tôi độc đáo, chân thành, mang phong cách riêng không thể thay thế.

Trong lịch sử văn học – nghệ thuật, đã từng có những quan niệm giản đơn coi cái đẹp là sự cộng gộp của những hình ảnh tươi sáng, những lời lẽ hoa mĩ. Nhưng thực chất, cái đẹp trong văn chương không phải là phép cộng cơ học của màu sắc, âm thanh hay cảm xúc rời rạc. Cái đẹp là sự thống nhất hài hòa của cái chân, cái thiện và cái mĩ – như Nguyên Ngọc từng khẳng định: “Đã là văn chương thì phải đẹp”, mà cái đẹp ấy trước hết phải chân thật, phải gắn với những rung động có thật của con người trước cuộc đời. Chính vì thế, lao động nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ hay nhạc sĩ không bao giờ là sự sao chép giản đơn hiện thực, mà là một quá trình sáng tạo đầy công phu, nơi hiện thực được nhào nặn, chưng cất qua lăng kính chủ quan của cá tính nghệ sĩ. Tô Hoài từng nói một cách hình ảnh: “Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống trang bản thảo do phong cách riêng của mình mà có”. Một hạt ngọc chỉ có giá trị khi nó được tạo thành qua áp lực, thời gian và sự kết tinh; cũng vậy, mỗi trang văn còn vương lại trên trần thế là mỗi phong cách được ghi tạc trăm năm.

Văn học, vì thế, là lĩnh vực của cái độc đáo. Một tác phẩm thực sự có giá trị không thể chỉ lặp lại những gì đã có, mà phải là “một phát minh về hình thức, một khám phá về nội dung”. Điều còn lại sau cùng của mỗi nhà văn, như nhiều nhà lí luận từng khẳng định, chính là “giọng nói của riêng mình”. Từ cái tôi phong cách ấy, người nghệ sĩ từng bước khám phá chiều sâu bí ẩn của tâm hồn con người và cuộc sống, không theo những lối mòn quen thuộc, mà theo quy luật riêng của cái đẹp. Và cái đẹp ấy, một khi được khơi nguồn và kết tinh từ cuộc sống, sẽ luôn có sức hấp dẫn bền bỉ đối với người đọc, người nghe, góp phần bồi đắp những giá trị nhân văn lâu dài.

Trong dòng chảy ấy của nghệ thuật Việt Nam hiện đại, Trịnh Công Sơn là một hiện tượng đặc biệt. Ông không chỉ là một nhạc sĩ, mà còn là một “thi sĩ của âm nhạc”, người đã để lại một thế giới ca từ mang dấu ấn cá nhân sâu đậm. Nhạc sĩ Văn Cao từng tâm sự: “Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra”, còn nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nhận xét: “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”. Nhưng cái “dễ” ấy không phải là sự hời hợt, mà là kết quả của một tâm hồn nhạy cảm đến độ mọi rung động đều có thể hóa thành lời ca. Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn nằm ở chỗ ông không chủ ý tạo ra một trường phái hay một hệ thống triết học khô cứng, mà để cho những suy tư về thân phận, tình yêu, chiến tranh, quê hương… thấm vào lòng người một cách tự nhiên như dòng suối mát. Chính vì thế, nhạc Trịnh có sức lan tỏa vượt biên giới, vượt thời gian, chinh phục hàng triệu con tim ở nhiều thế hệ.

Nhớ mùa thu Hà Nội – sáng tác năm 1985, khi Trịnh Công Sơn vừa từ Liên Xô trở về và ở lại Hà Nội một tháng – là một minh chứng tiêu biểu cho cái đẹp mang dấu ấn chủ thể sáng tạo. Đó không chỉ là một bài hát viết về Hà Nội, mà là những trải nghiệm và trải lòng của một “người khách lạ” trước xứ Kinh Kỳ ngàn năm văn hiến. Bài hát lấy cảm hứng chủ đạo là nỗi nhớ – một nỗi nhớ vừa mong manh vừa da diết, nảy sinh khi tình yêu giữa đất và người vừa kịp chớm nở đã phải chia xa. Chính cảm thức ấy khiến Nhớ mùa thu Hà Nội làm người đi xa không khỏi xốn xang, người ở lại cũng bồi hồi mỗi độ gió heo may về trên phố.

Ngay từ những câu ca đầu tiên, Trịnh Công Sơn đã mở ra một Hà Nội mùa thu mang vẻ đẹp lãng mạn, cổ kính, đậm dấu ấn Kinh kỳ xưa:
“Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu.”
Đó không phải là Hà Nội rực rỡ, ồn ào, mà là một Hà Nội trầm mặc, sâu lắng, hiện lên qua những gam màu cổ điển: vàng của cây cơm nguội, đỏ của lá bàng, nâu thẫm của mái ngói phố xưa. Những hình ảnh ấy gợi nhắc đến một Hà Nội của kí ức, của chiều sâu lịch sử và văn hóa, nơi thời gian dường như lắng đọng. Cái đẹp ở đây không phải là sự phô bày, mà là vẻ đẹp của sự chắt lọc, của cái nhìn tinh tế chỉ có thể có ở một tâm hồn thực sự rung động trước không gian ấy.

Sở dĩ Nhớ mùa thu Hà Nội khơi gợi tình cảm thân thuộc đến vậy là bởi Trịnh Công Sơn đã bắt được “thần thái” của Thủ đô cổ xưa – một thần thái không dễ nhận ra đối với những cái nhìn hời hợt. Những cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu… là những hình ảnh mang tính biểu tượng, gắn liền với kí ức văn hóa Hà Nội, giống như tranh phố Phái, như cốm làng Vòng hay hương hoa sữa tháng mười. Không phải ai một lần ghé ngang Hà Nội cũng có thể “bắt” được những dư vị ấy; chỉ có một tâm hồn đủ lắng, đủ sâu mới chưng cất được tinh túy để đưa vào lời ca. Qua nhạc phẩm, người nghe không chỉ thấy một bức tranh mùa thu đẹp đẽ, mà còn cảm nhận được “hồn thiêng núi sông ngàn năm” thấp thoáng phía sau từng giai điệu.

Điều đặc sắc hơn cả là Trịnh Công Sơn không dừng lại ở những hình ảnh hữu hình, mà còn lắng hồn mình vào những cảm giác vô hình nhưng sống động của mùa thu Hà Nội – mùi hương, làn gió, những rung động mong manh khó gọi tên:
“Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội
Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió
Mùa cốm xanh về thơm bàn tay nhỏ
Cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua.”
Ở đây, cái đẹp được cảm nhận bằng nhiều giác quan: gió cũng “thơm”, bàn tay cũng “thơm”, bước chân đi qua cũng mang theo hương cốm. Những động từ và tính từ tưởng chừng rất giản dị lại tạo nên một không gian cảm xúc đầy tinh vi, nơi mùi hương trở thành sợi dây liên kết giữa con người và thành phố. Xa Hà Nội, nhưng những gì thuộc về Hà Nội vẫn vấn vít, không rời, như một nỗi niềm lưu luyến không gọi thành tên. Chính sự tinh tế ấy làm nên dấu ấn riêng không thể trộn lẫn của Trịnh Công Sơn trong cách cảm nhận và thể hiện cái đẹp.

Phân tích ý kiến: Cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo qua lời ca khúc Nhớ mùa thu Hà Nội

Hồ Tây – một biểu tượng khác của Hà Nội – hiện lên trong ca từ Trịnh Công Sơn như một bức tranh thủy mặc mơ hồ:
“Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi
Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.”
Cảnh không chỉ để ngắm, mà để đối thoại với tâm hồn. Mặt nước “lay”, bờ xa “mời gọi”, sương mang “thương nhớ”, bầy sâm cầm vỗ cánh về phía mặt trời – tất cả đều được nhân hóa, nhuốm màu cảm xúc. Cảnh và tình hòa làm một, khiến người nghe có cảm giác như đang bước vào một thế giới vừa thực vừa mơ, nơi nỗi nhớ lan tỏa trong từng chuyển động nhẹ của thiên nhiên.

Những lời ca cuối càng khắc sâu nỗi nhớ ấy:
“Hà Nội mùa thu, đi giữa mọi người…
Sẽ có một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôi…”
Nỗi nhớ ở đây vừa hiện hữu vừa vô hình, không hướng về một đối tượng cụ thể mà dường như hướng về tất cả: con người, con phố, quá khứ, kỉ niệm. Mùa thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn vì thế chạm đến miền sâu kín nhất trong tâm hồn người nghe. Người đi xa nhớ một Hà Nội trong ảo ảnh và hình dung; người ở gần lại nhớ một Hà Nội của dĩ vãng, xa xăm. Chính sự mông lung ấy tạo nên sức đồng cảm rộng lớn, khiến nhạc phẩm sống mãi cùng nhiều thế hệ.

Không chỉ ở nội dung, cái đẹp mang dấu ấn chủ thể sáng tạo trong Nhớ mùa thu Hà Nội còn thể hiện rõ qua hình thức nghệ thuật. Bài hát sử dụng nhiều hình ảnh đặc trưng của Hà Nội, kết hợp với các phép điệp ngữ, điệp cấu trúc, ngôn ngữ giàu tính gợi cảm. Giai điệu khi lắng đọng, khi vút cao, lúc da diết, lúc bâng khuâng, hòa quyện chặt chẽ với ca từ, tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất. Ngôn từ giản dị mà tinh tế, lời ca mượt mà, êm ái đã diễn tả tài tình thần thái của cảnh và người nơi mảnh đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến.

Từ đó có thể khẳng định: ý kiến cho rằng “cái đẹp của văn chương chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo” là hoàn toàn đúng đắn. Thiên chức của người nghệ sĩ là khơi nguồn cho cái đẹp tràn vào trang viết, nhưng cái đẹp ấy chỉ thực sự có giá trị khi được nâng tầm thành giá trị thẩm mĩ thông qua tài năng và phong cách riêng. Cái đẹp trong Nhớ mùa thu Hà Nội không phải là cái đẹp chung chung của mùa thu hay của Hà Nội, mà là cái đẹp đã được “Trịnh Công Sơn hóa”, mang dấu ấn sâu đậm của một tâm hồn đa cảm, nhân văn, đầy suy tư.

Từ đó, bài học đặt ra cho người sáng tác là phải không ngừng tìm kiếm, bồi đắp và trung thành với cái tôi nghệ thuật của mình, phải có tâm huyết với nghề, với ngòi bút, để mỗi tác phẩm ra đời đều mang một vẻ đẹp độc đáo, không thể thay thế. Với người tiếp nhận, cần mở lòng mình để cảm thấu những mạch ngầm cảm xúc, những tầng ý nghĩa mà người nghệ sĩ gửi gắm, để từ đó bước vào địa hạt của cái đẹp bằng cả rung động và suy tư.

Như vậy, qua lời ca Nhớ mùa thu Hà Nội, có thể thấy rõ rằng cái đẹp của văn chương – và của nghệ thuật nói chung – không nằm ở sự hào nhoáng bề ngoài, mà ở dấu ấn cá nhân sâu sắc của chủ thể sáng tạo. Chính dấu ấn ấy làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm, khiến nó vượt qua giới hạn thời gian, không gian để ở lại trong trái tim con người.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online