Suy nghĩ về quan điểm: Cái hồn của thơ không phải là chữ mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ (Chu Văn Sơn)

Bình chọn

Đề bài: Suy nghĩ về quan điểm: Cái hồn của thơ không phải là chữ mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ (Chu Văn Sơn)

Dàn ý Suy nghĩ về quan điểm: Cái hồn của thơ không phải là chữ mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ (Chu Văn Sơn)

1. Giải thích

– Thơ là thể loại văn học thuộc phương thức trữ tình phản ánh tâm trạng, thái độ, tình cảm của tác giả trước hiện thực đời sống, con người bằng ngôn ngữ cô đọng gợi hình, gợi cảm và có nhịp điệu.

– “Chữ”: là yếu tố cơ bản đầu tiên cấu thành nên ngôn ngữ thơ.

– “Cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ”: là cách diễn đạt giàu hình ảnh để nói về sức gợi mở, lan truyền, tạo dư ba của thơ, vượt qua giới hạn câu chữ cụ thể.

=> Nhận định khẳng định: thơ hay là thơ giàu sức gợi, có giá trị ý ở ngoài lời, mang sức lan tỏa chiều sâu cảm xúc.

2. Bàn luận

– Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc mãnh liệt, là sự rung động chân thành của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống. Cũng như các thể loại văn học khác, thơ dùng ngôn từ xây dựng nên hình tượng nghệ thuật và thể hiện tình cảm, thái độ của tác giả. Điều quan trọng là tư tưởng của nhà văn không phải “nằm thẳng đơ trên trang giấy mà là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm” nghĩa là tình cảm là ngọn nguồn sâu xa của cái đẹp. Mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực phải hướng con người tới cái đẹp bằng tình cảm, cảm xúc  của nhà văn là sự lên tiếng, sự thăng hoa cảm xúc của người cầm bút. Ngô Thì Nhậm khẳng định “Hãy xúc động hồn thơ cho hồn bút có thần” là bởi thế.

– Nhà văn chỉ có thể sáng tạo nên tác phẩm khi cảm thấy trăn trở mạnh mẽ  trước cuộc sống con người, cảm thấy có tiếng nói thôi thúc mãnh liệt nơi con tim, là giây phút “bùng nổ cảm hứng” hay “cú hích của sáng tạo”. Không phải vô cớ mà Lê Quý Đôn cho rằng: “Thơ khởi phát từ trong lòng ta”. Còn Nêkraxôp thì tâm sự rằng, tất cả những gì khiến cho ông đau khổ, rạo rực, say mê, ông đều gửi vào thơ. Như vậy  tình cảm mãnh liệt – ấy chính là yếu tố đầu tiên của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Từ đó mà ngôn ngữ thơ có sức gợi lan tỏa diệu kì với “vầng sáng tỏ mờ bao quanh” đầy hấp dẫn.

– Ngôn ngữ thơ, ngoài những đặc trưng của ngôn ngữ văn học nói chung còn cần được gọt giũa, tinh luyện để phát huy tối đa sức mạnh biểu đạt với khả năng gợi hình, gợi cảm, cô đọng và giàu tính nhạc… Thi nhân tài năng phải tạo được những “thần cú”, “nhãn tự”, ẩn chứa những lớp trầm tích ý nghĩa sâu xa. Sáng tạo ngôn từ là sự khổ luyện công phu của nhà thơ.

– Thơ hay là thơ giàu sức gợi, ám ảnh lòng người, khơi gợi trường liên tưởng phong phú, bay bổng, để lại những suy tư, trăn trở cho độc giả. Thơ thường kiệm lời nhưng lại đặt ra được những vấn đề nhân sinh sâu sắc. Nói như người xưa thì đó là “ý tại ngôn ngoại”, lời ít mà ý vô cùng, theo nguyên lí “tảng băng trôi” (3 phần nổi, 7 phần chìm).

3. Chứng minh:

Học sinh lựa chọn được những dẫn chứng tiêu biểu; phân tích những khía cạnh làm nổi bật ý nghĩa của nhận định (không phân tích cả bài). Làm rõ nội dung sau:

+ Những đặc trưng và sức biểu đạt, gợi mở sâu xa của ngôn từ nghệ thuật trong việc phản ánh đời sống, thể hiện tâm trạng trữ tình.

+ Chỉ ra sự thống nhất hài hòa giữa hình thức ngôn từ và nội dung tư tưởng, cảm xúc trong thơ

4. Đánh giá, tổng kết

– Đây là ý kiến đúng đắn, sâu sắc , tinh tế, có giá trị gợi mở phương hướng sáng tác và cảm thụ, thẩm bình thơ.

– Rút ra bài học đối với người sáng tác và người thưởng thức thơ.

+ Người nghệ sĩ khi sáng tạo cần chú ý dồn toàn bộ tài năng và tâm huyết vào việc lựa chọn hình ảnh, từ ngữ, sao cho ngôn từ nghệ thuật phát huy tối đa giá trị biểu đạt.

+ Người đọc khi thưởng thức thơ phải huy động cả tình cảm và trí tuệ để rung động thực sự với những hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn từ.

Suy nghĩ về quan điểm: Cái hồn của thơ không phải là chữ mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ (Chu Văn Sơn)

Bài văn mẫu Suy nghĩ về quan điểm: Cái hồn của thơ không phải là chữ mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ (Chu Văn Sơn)

Thơ ca, từ khi ra đời cho đến hôm nay, vẫn luôn được xem là tiếng nói tinh khiết nhất của tâm hồn con người. Nếu văn xuôi kể lại đời sống bằng dòng chảy sự kiện, thì thơ lại chạm vào đời sống bằng những rung động tinh vi của cảm xúc, bằng những dư ba lan tỏa vượt ra ngoài giới hạn của câu chữ. Bởi thế, khi Chu Văn Sơn cho rằng: “Cái hồn của thơ không phải là chữ mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ”, ông đã chạm đến bản chất sâu xa nhất của thi ca – nơi mà ngôn từ chỉ là điểm khởi đầu, còn ý nghĩa, cảm xúc và linh hồn của bài thơ thì ngân vang ở ngoài lời, trong những khoảng lặng, những miền liên tưởng mênh mang của người đọc.

Thơ là thể loại văn học thuộc phương thức trữ tình, phản ánh tâm trạng, thái độ, tình cảm của con người trước hiện thực đời sống bằng ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. Trong thơ, “chữ” là yếu tố cơ bản đầu tiên cấu thành nên ngôn ngữ nghệ thuật. Không có chữ, không thể có thơ. Nhưng chữ trong thơ không tồn tại như những đơn vị ngữ nghĩa khô cứng; nó sống, rung, thở cùng cảm xúc của người viết. Bởi vậy, “cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ” là một cách diễn đạt giàu hình ảnh để chỉ sức gợi mở, khả năng lan truyền cảm xúc, tạo dư ba thẩm mĩ vượt ra ngoài những gì được nói trực tiếp. Nhận định của Chu Văn Sơn vì thế đã khẳng định một chân lí: thơ hay không dừng lại ở câu chữ đẹp, mà phải là thơ giàu sức gợi, có chiều sâu “ý ở ngoài lời”, đánh thức những tầng cảm xúc và suy tư tiềm ẩn trong tâm hồn người đọc.

Thơ trước hết là tiếng nói của tình cảm. Mọi bài thơ đích thực đều khởi sinh từ một rung động chân thành của tâm hồn trước đời sống con người. Nhà thơ không thể viết khi trái tim mình dửng dưng; ngược lại, thơ ra đời khi con người “không thể không nói”, khi cảm xúc dâng lên đến độ cần được giải phóng bằng ngôn từ. Tư tưởng trong thơ không phải là những mệnh đề khô cứng, “nằm thẳng đơ trên trang giấy”, mà là tư tưởng đã được nung chảy trong cảm xúc, đã rung lên ở nhiều cung bậc của tâm hồn. Bởi vậy, Ngô Thì Nhậm mới khẳng định: “Hãy xúc động hồn thơ cho hồn bút có thần”. Khi cảm xúc đủ sâu, đủ mạnh, chữ tự khắc có hồn; và chính cái hồn ấy tạo nên “vầng sáng tỏ mờ” bao quanh câu chữ.

Lịch sử thơ ca cho thấy, mọi thi phẩm lớn đều bắt nguồn từ những trăn trở mãnh liệt của người nghệ sĩ trước cuộc sống. Lê Quý Đôn từng nói: “Thơ khởi phát từ trong lòng ta” – một nhận định giản dị mà thấm thía. Còn Nêkraxôp thì tâm sự rằng, tất cả những gì khiến ông đau khổ, rạo rực, say mê, ông đều gửi vào thơ. Chính những cảm xúc mãnh liệt ấy đã khiến ngôn từ trong thơ không còn là vật liệu vô tri, mà trở thành những “điểm sáng”, phát ra ánh sáng riêng, chạm tới miền sâu kín nhất của tâm hồn con người. Khi Huy Cận viết trong Tràng giang:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”,
chữ “buồn” không chỉ gọi tên một cảm xúc, mà còn mở ra cả một không gian mênh mang của nỗi cô đơn, nỗi sầu vũ trụ của cái tôi trước thiên nhiên rộng lớn. Cái buồn ấy không nằm trọn trong chữ “buồn”, mà lan tỏa, thấm vào nhịp thơ, vào hình ảnh, vào khoảng trống mênh mang giữa các dòng thơ.

Ngôn ngữ thơ vì thế đòi hỏi một quá trình gọt giũa, tinh luyện công phu. Ngoài những đặc trưng chung của ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ thơ còn phải đạt đến độ cô đọng cao nhất, giàu tính nhạc, giàu khả năng gợi hình, gợi cảm. Nhà thơ tài năng luôn khao khát tạo nên những “nhãn tự”, những câu thơ có khả năng nâng đỡ toàn bộ bài thơ, chứa đựng những lớp trầm tích ý nghĩa sâu xa. Đó là kết quả của sự lao động nghệ thuật bền bỉ, của quá trình lựa chọn, thử thách, loại bỏ và chưng cất ngôn từ. Nguyễn Du đã từng mất nhiều đêm trăn trở chỉ để tìm một chữ “đắc địa” cho Truyện Kiều. Và chính những chữ như “sầu”, “đau”, “đoạn trường” ấy đã tỏa ra một “vầng sáng tỏ mờ”, khiến Truyện Kiều sống mãi trong tâm thức nhiều thế hệ độc giả.

Thơ hay không nói hết, không nói cạn, mà gợi mở. Thơ thường kiệm lời, nhưng lại đặt ra những vấn đề nhân sinh sâu sắc. Đó chính là nguyên lí “ý tại ngôn ngoại”, là quy luật “tảng băng trôi” trong nghệ thuật: phần được nói ra chỉ là phần nổi, còn phần chìm – phần quan trọng nhất – nằm trong cảm nhận và liên tưởng của người đọc. Khi Chế Lan Viên viết:
“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”
,
chữ nghĩa tưởng như giản dị, nhưng phía sau đó là cả một triết lí sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và quê hương, giữa sự hiện diện vật chất và sự gắn bó tinh thần. “Vầng sáng tỏ mờ” ở đây chính là chiều sâu triết lí lan tỏa từ những câu thơ ngắn gọn, khiến người đọc không chỉ cảm mà còn nghĩ, không chỉ rung động mà còn chiêm nghiệm.

Trong thơ ca cách mạng Việt Nam, điều này càng được thể hiện rõ. Thơ Tố Hữu giàu tính chính luận, nhưng không khô cứng bởi được nâng đỡ bằng cảm xúc chân thành. Trong Việt Bắc, câu thơ:
“Mình về mình có nhớ ta”
không chỉ là một lời hỏi, mà còn là sự kết tinh của ân tình cách mạng, của nghĩa tình gắn bó giữa cán bộ và nhân dân. Chữ “nhớ” ở đây không dừng lại ở nghĩa thông thường, mà tỏa ra một trường liên tưởng rộng lớn về đạo lí thủy chung, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc. Chính “vầng sáng tỏ mờ” ấy đã khiến thơ Tố Hữu sống lâu trong lòng người đọc.

Thơ hiện đại, với xu hướng cách tân mạnh mẽ, lại càng cho thấy rõ chân lí mà Chu Văn Sơn nêu ra. Những bài thơ của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê… nhiều khi phá vỡ cấu trúc cú pháp thông thường, sử dụng ngôn ngữ giàu tính biểu tượng, siêu thực, nhằm mở rộng biên độ cảm xúc và liên tưởng. Trong Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử viết:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
Câu hỏi ấy không chỉ hướng tới một địa danh, mà còn vang lên như một lời tự vấn, một tiếng gọi từ miền xa vắng của khát khao sống, khát khao yêu. Cái hồn của bài thơ không nằm ở những chữ “thôn Vĩ”, mà ở ánh sáng mơ hồ, buồn bã, đầy ám ảnh bao quanh từng hình ảnh, từng câu chữ.

Từ đó, có thể thấy quan điểm của Chu Văn Sơn là một ý kiến đúng đắn, sâu sắc và tinh tế. Nó không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của thơ ca, mà còn gợi mở phương hướng cho cả sáng tác và tiếp nhận thơ. Với người sáng tác, đó là lời nhắc nhở rằng không nên tuyệt đối hóa câu chữ, không chạy theo sự cầu kì hình thức, mà phải dồn toàn bộ tài năng và tâm huyết vào việc tạo ra những hình ảnh, từ ngữ có sức gợi lớn, có khả năng phát sáng từ bên trong. Ngôn từ chỉ thực sự có giá trị khi nó chuyên chở được cảm xúc chân thành và tư tưởng sâu sắc của người viết.

Với người đọc, quan điểm ấy cũng đặt ra yêu cầu cao trong việc thưởng thức thơ. Đọc thơ không chỉ là đọc chữ, mà là lắng nghe những rung động phía sau chữ, cảm nhận những khoảng lặng, những dư âm không được nói ra. Người đọc cần huy động cả tình cảm và trí tuệ để thực sự “đối thoại” với tác phẩm, để bước vào thế giới liên tưởng mà nhà thơ gợi mở. Chỉ khi đó, “vầng sáng tỏ mờ” của thơ mới hiện lên trọn vẹn, và thơ mới hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình: làm giàu có thêm đời sống tinh thần của con người.

Như vậy, khi khẳng định “cái hồn của thơ không phải là chữ mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ”, Chu Văn Sơn đã chạm tới linh hồn của thi ca. Đó là nơi ngôn từ không còn là giới hạn, mà trở thành cánh cửa mở ra những miền cảm xúc vô tận; nơi thơ không chỉ được đọc, mà được cảm, được sống cùng và được suy ngẫm suốt đời.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online