Phân tích bài thơ trào phúng Chế học trò ngủ gật của Nguyễn Khuyến

3.2/5 - (4 bình chọn)

Đề bài: Hãy viết bài văn phân tích bài thơ trào phúng Chế học trò ngủ gật của Nguyễn Khuyến.

Chế học trò ngủ gật

Trò trẹt chi bay học cạnh thầy
Gật gà gật gưỡng nực cười thay!
Giọng khê nồng nặc không ra tiếng,
Mắt lại lim dim nhắp đã cay.
Đồng nổi(1) đâu đây la liệt đảo,
Ma men(2) chi đấy tít mù say.
Dễ thường bắt chước Chu Y(3)đó,
Quyển có câu thần vậy gật ngay.

(Thơ Nguyễn Khuyến, NXB Văn Học, 2010, tr. 13)

Phân tích bài thơ trào phúng Chế học trò ngủ gật của Nguyễn Khuyến

Bài làm Phân tích bài thơ trào phúng Chế học trò ngủ gật của Nguyễn Khuyến

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả: tên tuổi, vị trí văn học,…

– Giới thiệu tác phẩm

– Nêu vấn đề cần nghị luận (phân tích bài thơ chế học trò ngủ gật)

Nguyễn Khuyến là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca trung đại Việt Nam, nổi bật với giọng thơ nhẹ nhàng, hóm hỉnh mà ẩn chứa những lời phê phán, châm biếm sâu cay. Trong số những tác phẩm của ông, bài thơ “Chế học trò ngủ gật” đã để lại nhiều ấn tượng bởi nét duyên hài hước và tinh thần trào lộng. Tác phẩm khắc họa hình ảnh một cậu học trò lười biếng, ngủ gật ngay bên cạnh thầy, qua đó vừa đem lại tiếng cười dí dỏm vừa phản ánh sinh động một mảng đời sống học đường dưới thời phong kiến, góp phần thể hiện rõ phong cách sáng tác độc đáo của Nguyễn Khuyến.

2. Thân bài: Phân tích theo hai phương diện nội dung và nghệ thuật:

* Ý 1: Phân tích nội dung bài thơ:

+ Hai câu thơ đầu: Bài thơ bắt đầu bằng việc miêu tả cảnh lớp học đầy sôi nổi, giáo viên đang giảng bài. Câu thơ: “Trò trẹt chi bay học cạnh thầy” gợi cảnh lớp học vui tươi. Câu thơ“Gật gà gật gưỡng nực cười thay” là hình ảnh cậu học trò ngủ gật. “Gật gà gật gưỡng” ý muốn nói đến trạng thái mơ ngủ, không tỉnh táo khi học bài. Hình ảnh thơ với những từ ngữ hài hước, hóm hỉnh mang đến những điệu cười khoái chí cho người đọc.

+ Các câu thơ tiếp:

“Giọng khê nồng nặc không ra tiếng,
Mắt lại lim dim nhắp đã cay.
Đồng nổi(1) đâu đây la liệt đảo,
Ma men(2) chi đấy tít mù say”.

Gợi các trạng thái ngủ nực cười của cậu học trò. Các từ láy “nồng nặc”, “lim dim”, “la liệt” miêu tả trạng thái mệt mỏi và buồn ngủ của cậu học trò; biện pháp nói quá trong những dòng thơ trên làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ, khiến bài thơ hóm hỉnh, khôi hài đúng như phong cách sáng tác của Nguyễn Khuyến.

+ Hai câu thơ cuối thể hiện rõ cách trốn học của học trò. Nhà thơ mặc dù không hài lòng với ý thức học tập của cậu học trò, thế nhưng ông không trách phạt mà nhắc nhở nhẹ nhàng, hết sức tinh tế.

* Ý 2: Phân tích nét đặc sắc về nghệ thuật:

– Ngôn ngữ hài hước

– Hình ảnh linh hoạt gần gũi, kết hợp với việc sử dụng các từ láy, biện pháp tu từ…

– Giọng điệu châm biếm nhưng không cay nghiệt, tạo tiếng cười nhẹ nhàng, dễ tiếp nhận

3. Kết bài:

  • Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Chế học trò ngủ gật”.

  • Nguyễn Khuyến đã tạo nên tiếng cười vừa dí dỏm vừa thâm thúy, để lại bài học ý nghĩa cho cả thế hệ hôm nay.

  • Tác phẩm cho thấy tài năng và phong cách trào phúng độc đáo của nhà thơ, góp phần làm giàu kho tàng văn học dân tộc.

Qua bài thơ “Chế học trò ngủ gật”, Nguyễn Khuyến không chỉ đem lại tiếng cười châm biếm về thói quen lười biếng của học trò, mà còn gửi gắm lời nhắc nhở đầy ý nghĩa về thái độ học tập. Bằng giọng thơ hóm hỉnh, hài hước, ông đã khéo léo khuyên răn thế hệ trẻ phải biết quý trọng việc học, giữ sự tập trung và tinh thần nghiêm túc. Vì thế, tác phẩm không chỉ phản ánh một mảng sinh hoạt học đường dưới thời phong kiến mà còn để lại bài học sâu sắc, vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online