Đề bài: Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 500 chữ) giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật văn bản Trăng của Xuân Diệu
TRĂNG
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá,
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi.
Tôi với người yêu qua nhẹ nhẹ…
Im lìm, không dám nói năng chi.
Bâng khuâng chân tiếc giậm lên vàng,
Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang,
Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá,
Và làm sai lỡ nhịp trăng đang.
Dịu dàng đàn những ánh tơ xanh,
Cho gió du dương điệu múa cành;
Cho gió đượm buồn, thôi náo động
Linh hồn yểu điệu của đêm thanh.
Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ,
Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ.
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá!
Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ.
Chú thích
Xuân Diệu (1916 – 1985), còn có bút danh là Trảo Nha, tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho, quê ở làng Trảo Nha (nay là xã Đại Lộc), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Xuân Diệu được mệnh danh là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm hứng mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ, cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của mùa xuân, của tình yêu và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết.
Xuân Diệu là cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ, có đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực của văn học Việt nam hiện đại. Ông xứng đáng với danh hiệu một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn.
Vội vàng được in trong tập Thơ thơ, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.
Dàn ý Đánh giá về nội dung và nghệ thuật văn bản Trăng của Xuân Diệu
I. Mở bài
-
Giới thiệu tác giả Xuân Diệu – “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”, thi sĩ của tình yêu và tuổi trẻ.
-
Giới thiệu bài thơ Trăng (sáng tác 1938, in trong Thơ Thơ) – một thi phẩm tinh tế viết về tình yêu đôi lứa, giàu cảm xúc và mang đậm phong cách Xuân Diệu.
II. Thân bài
1. Đánh giá nội dung – mạch cảm xúc nhân vật trữ tình
-
Chủ đề xuyên suốt: tình yêu đôi lứa – trong sáng, say đắm, hồn nhiên và bối rối.
-
Mạch cảm xúc vận động:
-
Mở đầu là khung cảnh trăng sáng lãng mạn làm nền cho tình yêu mới chớm, thẹn thùng.
-
Tiếp sau là tâm trạng nuối tiếc vì chưa dám giãi bày, lo lắng sợ ánh trăng (ánh sáng) chiếu rọi làm tình cảm vụt tan.
-
Cảm xúc chìm vào khoảng lặng, cảnh vật “trầm xuống” cùng tâm trạng ngơ ngác, cô đơn.
-
Cuối bài thơ, tình yêu vẫn tha thiết mơ mộng nhưng trăng sáng quá khiến đôi lứa cảm thấy bơ vơ, chơi vơi.
-
-
Hình ảnh “trăng” là hình tượng trung tâm: vừa là nhân chứng vừa là biểu tượng cho vẻ đẹp, sự tinh khiết nhưng cũng là khoảng cách, sự xa vời.
-
Điểm nhìn nghệ thuật chuyển từ ngoại cảnh vào nội tâm, một đặc trưng nổi bật của thơ Xuân Diệu.
2. Đánh giá nghệ thuật – ngôn ngữ và hình tượng độc đáo
-
Hình tượng “trăng” phát triển đầy dụng ý:
-
Ban đầu là ánh sáng làm nên khung cảnh lãng mạn.
-
Sau trở thành sự cản trở khiến nhân vật mất tự tin, sợ hãi bày tỏ, dẫn đến cảm giác bơ vơ.
-
-
Ngôn ngữ và phong cách Xuân Diệu đặc sắc:
-
Từ ngữ mới mẻ, độc đáo, giàu cảm giác và nhạc tính.
-
Khả năng kết hợp giữa hình ảnh cụ thể với trạng thái nội tâm trừu tượng.
-
Dòng thơ mềm mại, đa thanh, đậm tính trữ tình.
-
III. Kết bài
-
Khẳng định giá trị nội dung: Trăng khắc họa chân thực, tinh tế những cung bậc cảm xúc trong tình yêu đôi lứa từ thẹn thùng đến nuối tiếc, lo sợ, cô đơn nhưng vẫn chan chứa mơ mộng.
-
Nhấn mạnh giá trị nghệ thuật: ngôn từ sáng tạo, hình ảnh giàu biểu tượng, giọng thơ trong trẻo, tinh tế đã làm nên sức hấp dẫn riêng của bài thơ và khẳng định tài năng Xuân Diệu trong phong trào Thơ Mới.

Bài văn mẫu Đánh giá về nội dung và nghệ thuật văn bản Trăng của Xuân Diệu
Xuân Diệu là được đánh giá là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”, nổi bật nhất của phong trào thơ mới 1932 – 1945. Thơ Xuân Diệu là một thanh âm cao vút, rộn rã, đầy màu sắc mới lạ, như một luồng gió lạ thổi vào thi đàn văn học Việt Nam. Ông được mệnh danh “ông hoàng thơ tình”, thơ ông tràn ngập lòng yêu đời, yêu người, yêu nhiên nhiên, yêu Đất nước. Đến với tình yêu trong thơ Xuân Diệu ta sẽ thấy được nhiều màu sắc, nhiều cung bậc cảm xúc lúc nhẹ nhàng, tha thiết, lúc lại mãnh liệt, sục sôi, khi lo lắng, u buồn lúc lại trỗi dậy nồng nàn. Đến với bài thơ “Trăng”, độc giả sẽ cảm nhận được một tình yêu nhẹ nhàng, ngây thơ, lo lắng, bồn chồn nhưng cũng đầy mơ mộng, thi phẩm đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó phai mờ. Trong bài thơ “Trăng” của Xuân Diệu có bản sắc riêng, luôn luôn tràn đầy, tràn ngập là nhân chứng soi sáng cho tình yêu đôi lứa.
Tình yêu là chủ đề quen thuộc trong thơ Xuân Diệu. Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình được miêu tả theo hình ảnh ánh trăng. Mở đầu là hình ảnh “trăng” soi sáng cho tình yêu đôi lứa thẹn thùng, bối rối những buổi đầu hò hẹn. Tiếp theo là sự tiếc nuối chưa kịp bày tỏ, sự lo sợ, ngơ ngác tình yêu bị soi sáng chói quá sẽ mất đi cảm xúc. Sự lo lắng, bối rối khiến cho khung cảnh, sự vật trở nên buồn hơn khiến cảnh vật rơi vào yên lắng. Ta thấy được sự đồng điệu trong tâm hồn, cùng nhau mơ mộng về tình yêu không bến bờ nhưng Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá! khiến đôi lứa thấy bơ vơ.
Trong “Trăng” ta thấy một tình yêu ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên và đôi chút mơ mộng với nỗi niềm bơ vơ. Hình ảnh “trăng” xuyên suốt tác phẩm như nhân chứng soi sáng cho tình yêu đôi lứa. Mở đầu là hình ảnh “trăng” soi sáng cho tình yêu đôi lứa thẹn thùng, bối rối những buổi đầu hò hẹn.
“Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá,
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi.
Tôi với người yêu qua nhẹ nhẹ…
Im lìm, không dám nói năng chi.”
Trăng đã trở thành nhân chứng soi sáng khắp lối cho tình yêu. Dưới ánh trăng, tình yêu thật ngây thơ, e ấp. Đôi lứa gặp nhau tưởng chừng cảm xúc sẽ trào dâng mà đem lòng bày tỏ, nhưng không biết điều gì đã khiến đôi lứa “Im lìm, không dám nói năng chi.” Xuân Diệu đã thể hiện được sự gắn kết giữa vầng trăng và con người. Trăng sáng “tuôn đầy các lối đi” lộ ra cặp tình nhân đang e thẹn. Vầng trăng tuy thân quen nhưng nay sao không khí ngượng ngùng đến thế. Có lẽ ánh trăng chói quá nên con người yêu nhau càng thêm “im lìm, không dám nói năng chi”. Ngỡ rằng cảm xúc phải dâng trào, thơ mộng dưới ánh trăng mà nào nghĩa đến cảnh im lìm, câm nín. Chắc hẳn phải có điều gì đó khiến tâm trạng con người khó thổ lộ đến vậy.
Tiếp theo là sự tiếc nuối chưa kịp bày tỏ, sự lo sợ, ngơ ngác tình yêu bị soi sáng chói quá sẽ mất đi cảm xúc.
“Bâng khuâng chân tiếc giậm lên vàng,
Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang,
Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá,
Và làm sai lỡ nhịp trăng đang.”
Đôi lứa đi dạo dưới ánh trăng mà long bâng khuâng, nuối tiếc, lo sợ, ngơ ngác không biết làm sao để thổ lộ được nỗi niềm. Nhưng lại lo ánh trăng sáng rõ hay sợ mình tỏ bày hết sẽ khiến “sai lỡ nhịp trăng đang”.
Sự lo lắng, bối rối khiến cho khung cảnh, sự vật trở nên buồn hơn khiến cảnh vật rơi vào yên lắng.
“Dịu dàng đàn những ánh tơ xanh,
Cho gió du dương điệu múa cành;
Cho gió đượm buồn, thôi náo động
Linh hồn yểu điệu của đêm thanh.”
Tình yêu khiến cho khung cảnh cũng thật nên thơ, một bức tranh đầy màu sắc, âm thanh, hình ảnh. Dưới ngòi bút của Xuân Diệu những thứ tưởng như vô hình như gió, âm thanh cũng trở nên hữu hình và có tâm hồn. Ấy là bởi cái đẹp trong mắt kẻ si tình. Chính vì thế nên từng câu thơ viết lên như có linh hồn hòa cùng trái tim đang thổn thức của đôi trai gái thuở ban đầu.
Và rồi chúng tôi đã thấy được sự đồng điệu trong tâm hồn, cùng nhau mơ mộng về tình yêu không bến bờ nhưng vẫn khiến đôi lứa thấy bơ vơ.
Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ,
Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ.
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá!
Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ.
Với điểm nhìn từ ngoài vào trong Xuân Diệu cho ta thấy dường như tình yêu và cảnh vật thiên nhiên như hòa vào nhau để tôn vinh những xúc cảm tình yêu chân thành, tuy e ấp, ngơ ngác nhưng lại đầy mơ mộng, bâng khuâng. Tình yêu thắm thiết của lứa đôi cũng không ngăn nổi cảm giác “bơ vơ” của thân phận con người . Không phải tự nhiên mà Xuân Diệu được đánh giá là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”. Việc sử dụng ngôn từ một cách mới mẻ với hệ thống từ vựng mới đã làm nên cái mới đó cho thơ ông. Hơn nữa lời thơ Xuân Diệu trước hết là lời thơ giàu nhạc tính. Một tâm hồn yêu đời yêu người đã tạo nên những câu thơ với nhạc điệu nồng nàn, thiết tha.
Mahatma Gandhi đã từng nói: “Nơi nào có tình yêu, nơi đó có sự sống”. Quả thật thơ Xuân Diệu chất chứa tình yêu mãnh liệt như vậy, với ông cuộc sống thiếu tình yêu thì không phải là cuộc sống. Trong bài thơ “Trăng” của Xuân Diệu tình yêu thật ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên và đôi chút mơ mộng với nỗi niềm bơ vơ thơ dại. Nhưng không bởi vì thế mà không rực cháy, da diết và mãnh liệt. Tình yêu ấy được thắp sáng bởi trăng, thật ấm áp, mơ mộng, da diết và trường tồn.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
