Đề bài: So sánh nhân vật người lái đò trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân với nhân vật Huấn Cao để thấy chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám.
Dàn ý So sánh hình tượng ông lái đò và nhân vật Huấn Cao
A. Mở bài
-
Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân: cây bút tài hoa, suốt đời đi tìm cái đẹp, gắn bó sâu sắc với vận mệnh văn hóa dân tộc.
-
Khái quát hai nhân vật tiêu biểu: Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” (trước Cách mạng) và người lái đò trong “Người lái đò sông Đà” (sau Cách mạng).
-
Dẫn vào vấn đề: So sánh để thấy sự thống nhất cũng như nét khác biệt trong cách khám phá con người, từ đó làm nổi bật phong cách và tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
B. Thân bài
1. Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà
a. Vài nét về không gian nghệ thuật
-
Con sông Đà vừa dữ dội, hiểm trở (như một “trường thi” khắc nghiệt), vừa trữ tình, thơ mộng.
-
Chính không gian ấy làm nổi bật hình tượng người lái đò.
b. Hình tượng người lái đò
-
Ngoại hình, giọng nói, ánh mắt đều đậm chất sông nước, toát lên sự từng trải, phong trần.
-
Là người am hiểu tường tận từng luồng lạch, từng “binh pháp” của thần sông thần đá, với trí nhớ siêu phàm.
-
Là tay lái tài hoa, điêu luyện, vượt qua “trùng vi thạch trận” bằng sự chính xác, gan góc, mưu trí.
-
Sau trận vượt thác khốc liệt, ông lại ung dung hút thuốc, kể chuyện bình thản như chuyện thường ngày – phong thái nghệ sĩ.
-
⇒ Người lái đò là hình tượng người lao động mới anh hùng, Nguyễn Tuân phát hiện ra vẻ đẹp phi thường ngay trong công việc lao động thường nhật.
2. Phân tích hình tượng Huấn Cao
a. Vài nét về không gian nghệ thuật
-
Không gian nhà tù âm u, ngột ngạt – một xã hội đen tối thời phong kiến.
b. Hình tượng Huấn Cao
-
Là con người hội tụ vẻ đẹp tài hoa (viết chữ đẹp nổi tiếng), khí phách hiên ngang (coi thường cường quyền), và một thiên lương trong sáng (biết cảm mến tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục).
-
Huấn Cao không chỉ đẹp về tài năng mà còn cao đẹp về nhân cách, có khả năng cảm hóa người khác.
-
⇒ Là hình tượng con người “vang bóng một thời”, lí tưởng hóa, mang đậm màu sắc lãng mạn, hoài cổ.
3. So sánh hai hình tượng nhân vật để thấy sự thống nhất và vận động trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân
a. Điểm giống nhau (thống nhất)
-
Cả hai đều được Nguyễn Tuân miêu tả dưới ánh sáng tài hoa, nghệ sĩ, đều là những “con người phi thường” vượt lên hoàn cảnh.
-
Nguyễn Tuân vẫn dùng ngôn ngữ điêu luyện, giàu tính tạo hình, vận dụng tri thức của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để khắc họa nhân vật.
b. Điểm khác nhau (vận động)
-
Trước Cách mạng: Nguyễn Tuân tìm cái đẹp trong quá khứ, ở những con người tài tử, khí phách đã lùi vào dĩ vãng (Huấn Cao).
-
Sau Cách mạng: Ông phát hiện cái đẹp ngay trong người lao động bình dị, trong hiện thực đời thường (ông lái đò).
-
Từ quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, sang quan niệm nghệ thuật vì cuộc sống, gắn với nhân dân, ca ngợi con người mới trong xây dựng đất nước.
C. Kết bài
-
Khẳng định giá trị hai hình tượng: Huấn Cao và người lái đò đều toát lên vẻ đẹp tài hoa, phi thường, khắc họa đậm dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân.
-
Qua đó thấy được quá trình chuyển biến trong tư tưởng nghệ thuật của ông, từ hoài cổ sang gắn bó sâu sắc với đời sống lao động của nhân dân.
-
Liên hệ: Gợi mở bài học về việc biết trân trọng, phát hiện vẻ đẹp con người ngay trong chính cuộc sống quanh ta.

Bài văn mẫu So sánh hình tượng ông lái đò và nhân vật Huấn Cao
Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa bậc nhất của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông có sở trường đặc biệt ở thể tùy bút, với vốn ngôn từ tinh luyện, giàu hình ảnh, kết hợp tri thức nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau để tạo nên những trang văn đầy nhạc, họa, điện ảnh. Tác phẩm Người lái đò Sông Đà chính là đỉnh cao nghệ thuật tùy bút của Nguyễn Tuân, ghi lại kết quả chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958. Trên mảnh đất miền núi xa xôi ấy, ông sống cùng bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân, đồng bào dân tộc… nên chứng kiến tận mắt công cuộc dựng xây cuộc sống mới, từ đó nguồn cảm hứng về thiên nhiên và con người Tây Bắc tuôn trào trong những trang văn đẹp đến mê say. Qua tùy bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân không chỉ ca ngợi vẻ hùng vĩ, thơ mộng của núi rừng Tây Bắc, mà đặc biệt hơn, ông còn tạc vào văn học hình tượng người lái đò – một người lao động bình dị mà phi thường, anh hùng. Đặt bên cạnh nhân vật Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” (trước Cách mạng), ta sẽ thấy rõ sự nhất quán cũng như vận động trong tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
Hình ảnh con sông Đà dưới ngòi bút Nguyễn Tuân hiện lên vừa “hung bạo” vừa “trữ tình”. Những đoạn miêu tả sông Đà dữ dội, hiểm trở giống như khắc họa một đấu trường tự nhiên khắc nghiệt. Mặt sông có lúc “reo như đun sôi lên một trăm độ”, “muốn hất tưng đi một cái thuyền”, có những “ổ gà” khiến thuyền bị giật xuống, dồi lên, “thác là nơi có nhiều luồng nước, đi lầm là chết ngay”. Con sông ấy quả thực là một “thạch trận” thiên nhiên đầy cạm bẫy, chực nuốt chửng bất cứ ai lạc tay lái. Nhưng cũng con sông ấy, vào những ngày xuân, thu, lại khoác lên mình vẻ đẹp diễm lệ. Nguyễn Tuân so sánh sông Đà “tuôn dài như một áng tóc trữ tình”, lúc ẩn lúc hiện dưới mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo. Nước sông xuân xanh ngọc bích, sang thu lại lừ lừ đỏ như da mặt người say rượu. Cảnh ấy làm Nguyễn Tuân say mê ngắm nhìn, như một nghệ sĩ đứng trước bức tranh mỹ lệ của tạo hóa.
Trên cái nền thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng ấy, hình tượng người lái đò xuất hiện đầy nổi bật, mang vẻ đẹp của một người anh hùng sông nước. Trong cuộc vượt thác, ông lái đò không khác nào một vị tướng chỉ huy trận đánh với “thần sông, thần đá”. Ông đã thuộc lòng “binh pháp của thần sông, thần đá”, hiểu rõ từng luồng lạch, từng cửa sinh, cửa tử trên sông Đà. Ông kiên cường giữ mái chèo không để bị hất văng, hai chân kẹp chặt cuống lái, hai tay điều khiển con thuyền một cách táo bạo, chuẩn xác. Ông “phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, lập tức đổi chiến thuật để vượt vòng vây thứ hai, rồi nắm lấy đúng “cái bờm sóng” luồng sinh mà phóng thuyền lao nhanh qua hiểm địa. Đến vòng vây cuối, ông dùng đòn “phóng thẳng”, vượt qua những luồng chết mà đưa thuyền ra cửa thoát, bỏ lại sau lưng tiếng hò reo dữ dội của sóng thác. Sau tất cả, ông lại bình thản hút thuốc, trò chuyện, như thể vượt thác là công việc thường ngày.
Không chỉ gan góc, trí dũng, người lái đò còn mang cốt cách một nghệ sĩ tài hoa. Nguyễn Tuân gọi ông là “tay lái ra hoa”, người đã biến việc chèo đò thành một nghệ thuật. Nhờ am hiểu tường tận từng dòng nước, ông điều khiển con thuyền như “cưỡi hổ”, khi tránh, khi đè, lúc phóng thẳng, tất cả đều toát lên vẻ điêu luyện, lãng mạn. Đó chính là quan niệm của Nguyễn Tuân về vẻ đẹp con người trong lao động: người anh hùng không chỉ có nơi chiến trường mà có ngay giữa cuộc sống thường nhật.
So với người lái đò, nhân vật Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” lại đại diện cho một vẻ đẹp quá khứ, lãng mạn, phi thường theo kiểu “vang bóng một thời”. Huấn Cao nổi tiếng khắp vùng về tài viết chữ đẹp, chữ ông “vuông lắm, đẹp lắm”, được xem là báu vật, nâng tầm nghệ thuật thư pháp thành một giá trị văn hóa tinh thần thanh cao. Nhưng Huấn Cao không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa, ông còn là người khí phách hiên ngang, coi thường cường quyền, không chịu cúi đầu trước uy lực triều đình, giữ trọn tiết liệt “uy vũ bất năng khuất”. Đặc biệt hơn, Huấn Cao còn sở hữu một “thiên lương” trong sáng. Ban đầu, ông dửng dưng, lạnh lùng với viên quản ngục, nhưng khi nhận ra “cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài”, ông đã mềm lòng, cho chữ như một món quà tri âm, tri kỷ. Cảnh cho chữ chính là sự chiến thắng rực rỡ của ánh sáng trước bóng tối, của cái đẹp, cái thiện trước nhà tù u ám. Huấn Cao, dù là tử tù đang chờ ra pháp trường, nhưng vẫn hiên ngang đặt tài hoa và thiên lương của mình lên vị trí tối thượng.
Qua hai nhân vật, ta thấy một nét thống nhất sâu xa trong phong cách Nguyễn Tuân: vẫn say mê ngợi ca những con người tài hoa, khí phách; vẫn dùng ngôn ngữ điêu luyện, giàu hình ảnh, phối hợp kiến thức hội họa, âm nhạc, điện ảnh để tạc nên những tượng đài nghệ thuật sống động. Tuy vậy, cũng thấy rõ sự vận động trong quan niệm của Nguyễn Tuân. Trước Cách mạng, ông tìm kiếm vẻ đẹp ở những nhân vật phi thường, lãng mạn, ở quá khứ đã xa như Huấn Cao. Sau Cách mạng, ông tìm thấy cái đẹp ngay giữa cuộc sống hiện tại, giữa những con người lao động bình dị mà phi thường, như người lái đò sông Đà. Từ một Nguyễn Tuân “nghệ thuật vị nghệ thuật”, ông trở thành người nghệ sĩ gắn bó với nhân dân, trân trọng vẻ đẹp trong lao động, kiến thiết đất nước.
Qua hai hình tượng Huấn Cao và người lái đò sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã khẳng định vẻ đẹp tài hoa, khí phách của con người Việt Nam trong cả chiến đấu lẫn lao động. Tác phẩm của ông như một bản hòa ca ngợi ca thiên nhiên và con người, đồng thời minh chứng cho quá trình trưởng thành tư tưởng, nghệ thuật của chính nhà văn. Đó chính là những áng văn còn mãi với thời gian, để người đọc hôm nay vẫn lắng lòng chiêm ngưỡng, ngợi ca.
