Phân tích văn bản Ấm áp như nước của Đỗ Bích Thúy

Bình chọn

Đề bài: Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản Ấm áp như nước của Đỗ Bích Thúy

ẤM ÁP NHƯ NƯỚC

(Đỗ Bích Thúy)

(Lược đoạn đầu: Hiên và Hoài thân nhau như chị em gái. Hoài vừa mới sinh con. Chồng Hoài cũng làm giáo viên, nhưng mỗi lần sang thăm vợ con đều phải vượt dốc, đèo. Hiên hai sáu tuổi, bỏ ngỏ chuyện lập gia đình và lên vùng núi cao heo hút này đã hai năm,… Mỗi lớp học ở đây chỉ có dăm bảy đứa. Có lần lặn lội vào sâu trong bản, gặp từng gia đình để vận động, Hiên uống hai chén rượu ngô, rồi lăn ra ngủ bên cạnh mấy bó ngô khô, cha mẹ mới cho con đi học. Hôm sau đi đón học sinh tới lớp, cô bị ngã, cả người bùn ướt sũng. Thế mà thằng bé chẳng thương cô, nó nhảy xuống giữa đường, rồi biến mất tăm mất tích…)

Một tuần sau đó lớp của Hiên vắng mặt Vàng Chá Sình, tên thằng bé ấy.

Hiên đến nhà, mẹ nó bảo ngày nào nó cũng đeo túi đi học mà. Nhưng nó học ở đâu thì bố mẹ bận lắm, không đi theo được.

Hóa ra nó cũng đi học thật, mỗi tội không học ở lớp của Hiên mà ở lớp của… Khải. Một điểm trường xa gấp đôi, lại còn phải leo dốc chon von, dựng đứng. Nó chỉ thích học thầy Khải bởi vì giờ thể dục thầy không dạy thể dục mà dạy… võ.

Tất nhiên nó làm gì có tên trong danh sách học sinh, nhưng nó cứ nhảy vào ngồi học thì thầy cũng chẳng nỡ đuổi.

Hiên nhờ Hoài trông lớp rồi lò dò leo lên điểm trường của Khải. Y như… lời đồn, thằng bé Vàng Chá Sình với mái tóc đỏ quạch bù xù đang ngồi há mồm ngoài sân nhìn thầy Khải đi mấy đường quyền.

Nhận ra Hiên, thằng Sình lao ra sân ôm chân thầy, khóc toáng lên. Vừa khóc vừa gào:

– Tao không về đâu. Tao thích học ở đây. Tao không về đâu!

Hiên còn chưa thở xong vì leo dốc quá dài, thấy thằng bé gào lên như thế, chả hiểu sao cô cũng bật khóc tu tu. Cô với trò không biết ai khóc to hơn, nhưng nước mắt chắc Hiên nhiều hơn. Cô còn chả biết mình khóc vì cái gì. Vì cú ngã đến giờ vẫn ê ẩm mông, vì bãi nước đái của con ngựa non trong bếp bữa trước, hay vì một cái cục gì đó ứ nghẹn ở cổ mà không cách nào đẩy ra được, chả biết nữa. Nhưng có lẽ, cô ngập trong một cảm giác tủi thân cực độ.

Khải đi vào chỗ phòng ở sát với phòng học, lấy ra cho cô một chiếc khăn mặt ướt. Hiên cầm lấy, vừa đưa lên định lau mặt thì vội vàng quăng ra vì nó sặc mùi thuốc lào. Thằng bé chắc cũng sợ nước mắt của cô quá bèn đến gần và rụt rè:

– Thôi cô giáo đừng khóc nữa. Mai tao đi học là được.

Khải nói đế vào:

– Không được xưng tao. Xưng em, nhé! Nhắc mãi sao không nhớ thế hả?

Thằng bé gật nhưng vẫn vớt vát:

– Nhưng tao, à em vẫn muốn học võ.

Khải mỉm cười:

– Được, cuối tuần cho học võ riêng. Nhưng phải đến lớp tử tế. Cấm trốn.

Thằng bé nắm tay Hiên lôi đi:

– Thôi, bọn mình đi về.

Hẳn là “bọn mình”, suýt nữa thì Hiên phì cười khi mà nước mắt còn chưa khô.

Khải với Hiên quen nhau từ đấy. Hoài nói vợ Khải cũng là giáo viên nhưng cô ấy gặp tai nạn trên đường đến nhà học sinh vận động đi học. Núi lở, vùi kín cả người. Họ vừa cưới nhau được hai tháng. Từ đấy Khải chỉ ở trên điểm trường cao nhất, trường đổi cho về trường chính cũng không về.

Hiên cứ nghĩ mãi về nỗi đau ghim trong trái tim Khải. Hiên lẽ ra chẳng lên cái nơi chon von cơ cực này làm gì nếu như không phải để chạy trốn khổ đau. Lúc đầu là  thế, rồi dần dần quen, rồi thương, rồi gắn bó. Đến cả mùi phân trâu, phân bò cũng thấy quen mũi rồi.

Hôm trước Hiên không dừng được đã chạm tay mình vào tay Khải khi anh bảo cô cùng rửa tay chào mừng cái máng nước mới tinh, mà anh vừa dẫn về cho hai chị em. Và mặc dù dòng nước trong veo, dội vào tay lạnh buốt như kim châm, nhưng một điều gì đó thật là ấm áp, thật là gần gũi đã bao phủ lấy cô rồi.

(Tuyển tập truyện ngắn Hoa xuân trong gió xuân, Đỗ Bích Thúy, NXB Hội nhà văn, 2024, tr.77-84)

Phân tích văn bản Ấm áp như nước của Đỗ Bích Thúy

Bài làm Phân tích văn bản Ấm áp như nước của Đỗ Bích Thúy

A. Yêu cầu

– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

– Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Ấm áp như nước” của Đỗ Bích Thúy.

– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

B. Hướng dẫn

I. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Đỗ Bích Thúy: cây bút văn xuôi hiện đại, nổi bật với những trang viết về miền núi giàu cảm xúc nhân văn.

– Giới thiệu văn bản Ấm áp như nước: khắc họa chân thực cuộc sống, công việc và tình cảm của những giáo viên trẻ nơi vùng cao.

– Nêu vấn đề nghị luận: Văn bản tôn vinh tình yêu nghề, tình người, khát vọng sống và cống hiến của con người trong gian khó.

Trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam, Đỗ Bích Thúy được xem là một giọng viết giàu cảm xúc và đậm đà bản sắc miền núi. Những trang văn của chị luôn chan chứa tình người, tình đất và niềm trân trọng sâu sắc với cuộc sống nơi rẻo cao. Truyện ngắn “Ấm áp như nước” là một tác phẩm tiêu biểu, khắc họa chân thực cuộc sống gian nan mà đầy nghĩa tình của những giáo viên trẻ nơi vùng cao hiểm trở. Qua đó, Đỗ Bích Thúy không chỉ tôn vinh vẻ đẹp của lòng nhân ái, sự tận tụy với nghề mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình người và sức mạnh của tình yêu thương trong cuộc sống.

II. Thân bài:

1. Cuộc sống và công việc đầy gian khó của Hiên

– Tuổi trẻ rời bỏ thành phố, chấp nhận đến vùng núi heo hút, xa xôi.

– Lớp học ít học sinh, cơ sở vật chất thiếu thốn, việc vận động trò đi học vô cùng vất vả.

– Nhiều lần chịu cảnh tủi thân, cô đơn, mệt mỏi nhưng vẫn kiên trì bám trường, bám lớp.

2. Tình yêu nghề và tình thương học trò

– Hết lòng vận động học sinh đến lớp, chịu mọi khó khăn chỉ mong trò đi học.

– Khi Vàng Chá Sình bỏ lớp, Hiên bật khóc → cho thấy sự đau đáu, tận tâm và thương yêu chân thành.

– Niềm vui giản dị của Hiên là khi trò hứa đi học trở lại, hay được chia sẻ cùng đồng nghiệp.

3. Hình ảnh thầy Khải – điểm tựa tinh thần và sự đồng cảm

– Người thầy giàu trách nhiệm, yêu trò, dám hy sinh tình riêng vì nghề.

– Mang nỗi đau mất vợ nhưng vẫn kiên cường ở lại điểm trường cao nhất.

– Sự đồng cảm, sẻ chia với Hiên tạo nên cảm giác “ấm áp như nước”, gợi mở mạch nguồn tình yêu và gắn bó.

4. Giá trị nhân văn của văn bản

– Ca ngợi tình yêu nghề, tình thầy trò và tình đồng nghiệp giữa chốn gian khó.

– Khẳng định vẻ đẹp của con người miền núi: kiên cường, giàu yêu thương, biết gắn bó và hy sinh.

– Truyền đi thông điệp: chỉ có tình yêu và trách nhiệm mới giúp con người vượt qua khổ đau để tìm thấy hạnh phúc, sự “ấm áp” trong cuộc sống.

5. Nghệ thuật đặc sắc

– Miêu tả chân thực đời sống miền núi, giàu chi tiết gợi cảm.

– Giọng văn nhẹ nhàng, trữ tình, giàu sức lay động.

– Khắc họa nhân vật bằng chi tiết đời thường giàu ý nghĩa biểu tượng (chiếc khăn mùi thuốc lào, dòng nước lạnh buốt mà ấm áp…).

III. Kết bài:

– Khẳng định giá trị của văn bản Ấm áp như nước: làm sáng ngời tình yêu nghề và tình người nơi miền núi.

– Mở rộng: Gợi nhắc thế hệ trẻ hôm nay biết sống trách nhiệm, biết yêu thương, biết trân trọng công việc mình lựa chọn để tìm thấy hạnh phúc và ý nghĩa trong cuộc đời.

“Ấm áp như nước” không chỉ là câu chuyện về những người thầy, người cô nơi vùng cao mà còn là khúc ca dịu dàng về tình người và lòng tận tụy. Qua trang viết của Đỗ Bích Thúy, ta cảm nhận được hơi ấm của tình yêu nghề, tình yêu cuộc sống giữa giá lạnh núi rừng. Tác phẩm gợi nhắc mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, hãy biết sống có trách nhiệm, biết yêu thương và cống hiến, để dù ở nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, lòng người vẫn luôn “ấm áp như nước”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online