Phân tích đoạn thơ được trích trong bài thơ Chiêu hồn nước của tác giả Phạm Tất Đắc

Bình chọn

Đề bài:  Em hãy viết bài văn (khoảng 500 chữ) phân tích đoạn thơ được trích trong bài thơ Chiêu hồn nước của tác giả Phạm Tất Đắc

CHIÊU HỒN NƯỚC (1) (Trích)

Cũng nhà cửa, cũng giang san (2)

Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời!

Nghĩ lắm lúc đang cười hóa khóc

Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang

Vạch trời thét một tiếng vang

Cho thân tan với giang san nước nhà!…

… Non sông vẫn non sông gấm vóc,

Cỏ cây xem vẫn mọc tốt tươi.

Người xem cũng dáng con người,

Cũng tao cũng mắt như đời khác chi.

Cảnh như thế, tình thì như thế,

Sống mà chi, sống để mà chi?

Đời người đến thế còn gì!

Nước non đến thế còn gì nước non!

Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ,

Trông non sông lã chã dòng châu (3).

Một mình cảnh vắng đêm thâu

Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang san…

(Phạm Tất Đắc, trong Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX, Sđd)

Chú thích:

(1) Chiêu hồn nước: gọi hồn đất nước, mà đất nước ở đây có nghĩa là chủ quyền độc lập đã mất. Bài thơ được viết năm 1962, là tâm sự yêu nước nung nấu của tác giả, nó đã được truyền tụng rộng rãi và có sức lay động mạnh mẽ, đặc biệt là giưới thnah niên, học sinh khi đó.

(2) Giang san (giang sơn): sông núi, ngụ ý nói non sông đất nước.

(3) Dòng châu: dòng nước mắt

Phạm Tất Đắc (1909-1935) là một nhà thơ và chí sĩ yêu nước Việt Nam. Phạm Tất Đắc một con người mang trong mình ý thức sớm về việc cách mạng chủ nghĩa, sớm thấu nỗi lòng, chứng kiến nhiều đau khổ của người dân, căm thù bọn giặc Pháp xâm lược. Tuy ông mất khi tuổi đời còn rất trẻ dưới sự khắc nghiệt của bọn thực dân, nhưng khả năng của ông đã được công nhận rõ nhất qua thơ ca với sự thành công của tập thơ Chiêu hồn nước.

Tập thơ nhỏ gồm 198 câu song thất lục bát, với lời lẽ thống thiết, lúc lại sôi sục căm hờn dấy lên lòng yêu nước của người Việt qua các thời đại. Đặc biệt trong cảnh đô hộ của người Pháp, chạm được vào tấm lòng của rất nhiều thế hệ thanh niên thời đó, được đón nhận rất nồng nhiệt. Trong trích đoạn này gồm có 18 câu thơ dường như mang được ý nghĩa bao hàm sâu sắc của cả tập thơ vang vọng, có độ ấn tượng không thua kém gì những khúc ca bi tráng của đất nước được cất lên.

Phân tích đoạn thơ được trích trong bài thơ Chiêu hồn nước của tác giả Phạm Tất Đắc

Bài làm Phân tích đoạn thơ được trích trong bài thơ Chiêu hồn nước của tác giả Phạm Tất Đắc

1. Mở bài:

– Dẫn dắt giới thiệu tác giả, tác phẩm, yêu cầu đề bài.

Phạm Tất Đắc (1909 – 1935) là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ ca yêu nước đầu thế kỉ XX. Dẫu cuộc đời ngắn ngủi, ông vẫn kịp để lại cho văn học Việt Nam tập Chiêu hồn nước – một bản trường ca thống thiết cất lên từ nỗi lòng đau đáu với dân tộc. Đoạn trích Chiêu hồn nước vang lên như tiếng khóc hòa cùng tiếng gọi, vừa xót xa trước cảnh nước mất nhà tan, vừa bừng lên khí phách bi phẫn và khát vọng giành lại độc lập, tự do cho quê hương. Đây chính là những vần thơ lay động mạnh mẽ trái tim người đọc, gợi nhớ một thời dân tộc chìm trong đêm dài nô lệ nhưng vẫn cháy rực niềm tin vào ngày mai sáng.

2. Thân bài:

* Khái quát:

Tập thơ nhỏ gồm 198 câu song thất lục bát, với lời lẽ thống thiết, lúc lại sôi sục căm hờn dấy lên lòng yêu nước của người Việt qua các thời đại. Đặc biệt trong cảnh đô hộ của người Pháp, chạm được vào tấm lòng của rất nhiều thế hệ thanh niên thời đó, được đón nhận rất nồng nhiệt.

Trong trích đoạn này gồm có 18 câu thơ dường như mang được ý nghĩa bao hàm sâu sắc của cả tập thơ vang vọng, có độ ấn tượng không thua kém gì những khúc ca bi tráng của đất nước được cất lên.

Luận điểm 1: Phân tích nội dung chủ đề của văn bản.

– Đặc sắc về nhan đề: Nhan đề của bài thơ dường như là một sự rất mới lạ ở thời kì này, sự mạnh mẽ, nhiệt huyết trong từng suy nghĩ, len lỏi vào mạch máu của người thanh niên trẻ tuổi này mới từ chính tâm hồn, con người ông. Chiêu hồn chính là gọi hồn đất nước. Trong thời kì lầm than, nô lệ, đất nước thiếu sự sống chỉ có một cách là gợi về lịch sử hào hùng của dân tộc để phần nào phục hồi lại lòng yêu nước trong nhân dân.

– Sáu dòng thơ đầu là lời than, nỗi đau đớn khi nghĩ về đất nước:

Cũng nhà cửa, cũng giang san

Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời!

Nghĩ lắm lúc đang cười hóa khóc

Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang

Vạch trời thét một tiếng vang

Cho thân tan với giang san nước nhà!…

+ Đoạn trích được mở đầu khá ấn tượng với nghệ thuật điệp ngữ, thán từ đã đưa đến người đọc lời than nhuốm màu nô lệ của một đất nước vốn tự do, mạnh mẽ, dòng tự sự chân thật của tác giả theo cảm xúc tự nhiên khi nghĩ về đất nước khiến “Cười hóa khóc”. Nước mất thì đó là nghịch cảnh nỗi nhục nhã bi ai lớn nhất.

+ Với một đất nước với bề dày lịch sử, có “giang sơn, nhà cửa” đã được “Trời định” mà dường như các thế hệ tiếp nối dễ để sơ hở cho những điều xấu xa nhất trong lịch sử thâm nhập quá dễ.

+ Chế độ phong kiến hà khắc, Bọn thực dân tham lam, tàn ác làm cho đất nước đến mỗi nếp nhà đau đớn oằn mình chịu đựng.

+ Là người trí thức sức trẻ ngùn ngụt với suy nghĩ mới, đau nỗi đau chung dân tộc tác giả phải thốt lên những lời mạnh mẽ xé lòng có thể thấy qua ngòi bút đẫm tình muốn bứt ra khỏi vòng nô lệ mà chiến đấu. Tâm sự điển hình ấy không chỉ của mỗi người thanh niên trẻ mà là của biết bao con người ở thời thế đó làm cho mỗi câu thơ thêm thúc giục vào những tâm hồn đang ngủ quên với lòng yêu nước.

– Tám dòng thơ tiếp theo một sự mỉa mai đầy ẩn ý:

… Non sông vẫn non sông gấm vóc,

Cỏ cây xem vẫn mọc tốt tươi.

Người xem cũng dáng con người,

Cũng tao cũng mắt như đời khác chi.

Cảnh như thế, tình thì như thế,

Sống mà chi, sống để mà chi?

Đời người đến thế còn gì!

Nước non đến thế còn gì nước non!

+ Giọng thơ có thể thấy có sự mỉa mai nhẹ từ phía tác giả nhưng hơn hết đó là sự đau lòng quá sâu của tác giả để thốt lên được những lời nói kích thích vào lòng tự trọng.

+ Sự kết hợp giữa biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp ngữ “non sông, vẫn, cũng, đến thế còn gì, như thế, sống mà chi,…” cùng với câu cảm thán, câu nghi vấn để mong mỗi người đọc, hiểu mà thấm về hoàn cảnh của quốc gia đang có nguy cơ suy vong, nỗi đau nhục nhã đến bờ vực của cảm xúc để cùng đồng cảm với tác giả. Thấm thía hơn sự đau đớn, uất ức, bất lực trước sự giày xéo của quân xâm lược.

– Bốn dòng thơ cuối đoạn trích tác giả quay về với chính bản thân tác giả:

Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ,

Trông non sông lã chã dòng châu.

Một mình cảnh vắng đêm thâu

Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang san…

+ Không chỉ thương xót cho đất nước tác giả đã quay về thương cho chính bản thân mình một chút. Dường như suy nghĩ về tội ác giặc quá lớn, quá đau làm tác giả trẻ tuổi đã phải suy nghĩ mông lung một chút về hoàn cảnh của mình khi đứng ra giúp nước: “Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ”. Với thân thế của một người trẻ tuổi vậy chăng ta có làm nên điều gì lớn lao cho giang sơn. Nhìn non sông, đất nước vốn đã được “Vằng vặc sách trời chia xứ sở” vậy mà giờ đau thấu tâm can cũng chỉ biết rơi những giọt nước mắt.

+ Một câu hỏi lớn được đặt ra “liệu sức của mình có đủ để làm việc gì đó làm cho đất nước như các vị anh hùng thời đại?” nhưng hiện hữu vẫn là những tình cảm quá nhiệt huyết, sâu sắc của tác giả rất mong muốn đóng góp cho sự nghiệp chung. Điều đó đã được thể hiện qua suy nghĩ, thơ văn đến những hành động đậm tính khởi đầu cho phong trào chủ nghĩa xã hội sẵn sàng bỏ tất cả lại để được chết cho tự do, chứ quyết không sống nhục như con người đương thời.

+ Một mình trong đêm khuya càng nhìn, càng đau, càng phẫn uất khi nghĩ về “giang san”. Câu thơ cuối nhuốm đầy máu, nước mắt của tác giả càng làm cho người đọc thêm thấu hiểu tâm tư nỗi lòng cũng như cảm thông hơn với tác giả trước cảnh nước mất, nhà tan lúc bấy giờ.

=> Những vần thơ trên đã xứng đáng với kì vọng muốn cất lời trong một bài thơ sâu sắc để đời, khúc tráng ca mãi mãi trường tồn cùng thời gian. Phải hun đúc cho mình ngọn lửa sự tự do của đất nước thì tác giả mới có thể cất lên những lời thơ sâu sắc, cô đọng đến như vậy. Hơn nữa đã lay động nhiều con người yêu nước, giục giã họ lên đường cho tự do góp một phần công sức nhỏ bé như tác giả, họ không mong được công nhận chút nào để có thể tiến hành cách mạng kể cả có đổ máu, có sự hy sinh nhưng đất nước được sống đó mới là ý nghĩa của “chí làm trai – sống cùng đại cuộc”.

b. Phân tích một số đặc sắc nghệ thuật và hiệu quả thẩm mĩ.

– Thể thơ song thất lục bát với quy định rất chặt chẽ về vần, về nhịp.

+ Vần chân xen vần lưng, vần trắc xen lẫn vần bằng. Chẳng hạn ở sáu dòng thơ đầu:

Nghĩ lắm lúc đang cười hóa khóc,

T

Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang

T               B

Vạch trời thét một tiếng vang

B

Cho thân tan với giang san nước nhà!…

B

+ Nhịp thơ của cặp câu thất chủ yếu nhịp chẵn, lẻ (3/4), ví dụ hai câu:

Nghĩ thân thế// héo hon tấc dạ,

Trông non sông/ / lã chã dòng châu.

Cặp lục bát chủ yếu ngắt nhịp chẵn, ví dụ hai câu sau:

Một mình// cảnh vắng// đêm thâu

Muốn đem máu đỏ// nhuộm màu giang san…

Vần nhịp ấy góp phần tạo nên giọng điệu riêng của đoạn thơ: vừa kể việc, vừa trải nỗi niềm, vừa đầy sầu đau bi thiết, vừa đau đáu nỗi lo nước thương dân.

+ Đặc biệt, thể thơ song thất lục bát rất phù hợp với việc biểu đạt nội dung của đoạn thơ. Nhân vật trữ tình xuất thân một nhà thơ, một chí sĩ yêu nước vô cùng trẻ tuổi mong muốn làm cho đất nước luôn được mang sức sống của tự do dù có trải qua bao nhiêu sự dày vò của bọn xâm lược khắc nghiệt.

– Ngôn ngữ, hình ảnh thơ gần gũi, quen thuộc mà giàu giá trị biểu cảm. Sử dụng kết hợp các biện pháp tu từ như biện pháp ẩn dụ, điệp ngữ…

* Đánh giá mở rộng:

– Khái quát về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ: Đoạn thơ trích trong “Chiêu hồn nước” là một đoạn thơ mẫu mực của thể thơ song thất lục bát thuần tuý dân tộc với vần nhịp, giọng điệu phù hợp để diễn tả tâm sự, nỗi niềm của người chí sĩ yêu nước.

– Liên hệ mở rộng: Cùng viết về đề tài yêu nước lúc bấy giờ ta có thể thấy hiện lên trong bài thơ Hai chữ nước nhà – bài thơ mở đầu tập Bút quan hoài I của Trần Tuấn Khải cũng đã thể hiện tình yêu nước sâu sắc.

3. Kết bài:

– Khái quát giá trị bài thơ và nêu tác động của bài thơ nói chung và đoạn trích nói riêng đối với cá nhân em.

Chiêu hồn nước không chỉ là tiếng khóc cho một thời đau thương của dân tộc mà còn là lời hiệu triệu mạnh mẽ lay động lòng người. Qua những câu thơ thấm đẫm máu và nước mắt, Phạm Tất Đắc đã khắc ghi vào văn học Việt Nam một bản hùng ca đầy bi tráng, gửi gắm tinh thần yêu nước và ý chí quật cường của cả một thế hệ. Đoạn trích để lại trong em niềm xúc động sâu xa và nhắc nhở mỗi người hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, sống xứng đáng với những hi sinh của cha ông, tiếp tục nuôi dưỡng và giữ gìn ngọn lửa yêu nước bất diệt.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *