Đề bài: Có ý kiến cho rằng:“Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng.”
(Tiếng nói văn nghệ – Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9, Tập hai, NXBGD, 2016)
Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm văn học của bản thân (thông qua những tác phẩm nằm ngoài chương trình đã học), hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Dàn ý NLVH về ý kiến Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng
1. Mở bài.
– Dẫn dắt và giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận, trích dẫn được ý kiến của Nguyễn Đình Thi: “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng.”
2. Thân bài.
a. Giải thích nhận định.
– Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm. Tác phẩm văn học không chỉ là tấm gương phản chiếu cuộc sống mà còn là sản phẩm tâm hồn của người nghệ sĩ. Tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của nhà văn, là kết quả của quá trình lao động miệt mài, nghiêm túc; là nơi kết tinh tài năng, sáng tạo, tình cảm, tâm huyết của người nghệ sĩ. Tác phẩm nghệ thuật là nơi kí thác, gửi gắm tình cảm, tâm tư, chiêm nghiệm của người nghệ sĩ.
– Tác phẩm vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng: Tác phẩm là cầu nối giữa nhà văn với bạn đọc. Nhà văn quan sát, cảm nhận thế giới hiện thực rồi từ đó tái hiện, tái tạo một đời sống riêng trong tác phẩm của mình. Đến lượt tác phẩm lại đưa đời sống cá biệt ấy đến với cuộc đời chung, với mọi người. Suy ngẫm, cảm xúc mà người nghệ sĩ gửi gắm vào tác phẩm sẽ truyền đến người đọc tạo ra sự rung động, đồng điệu, đồng cảm, tạo ra tiếng nói tri âm giữa tác giả với bạn đọc.
– “Sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng” được truyền đến mọi người tức là tác phẩm văn học đã có những tác động mạnh mẽ vào cuộc sống. Khi sợi dây truyền của nó là những xúc động mãnh liệt của tâm hồn thì người đọc sẽ được soi tỏ bằng những quan điểm nhân văn tích cực giúp họ biết cách điều chỉnh hành vi từ đó hướng tới cách sống đẹp hơn. Tác phẩm lay động cảm xúc, đi vào nhận thức, tâm hồn con người cũng qua con đường tình cảm. Người đọc như được sống cùng cuộc sống mà nhà văn miêu tả trong tác phẩm với những yêu ghét, buồn vui.
– Tự trung lại ý kiến của Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh đến các giá trị đồng thời của tác phẩm văn chương trong mối quan hệ: nhà văn – tác phẩm – bạn đọc.
b. Bàn luận.
Tại sao nói “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng.”
– Xuất phát từ vai trò của nhà văn: Nhà văn – tác phẩm – người đọc là mối quan hệ tương tác đa chiều. Muốn tác phẩm có sự tác động mạnh mẽ đến bạn đọc thì trước hết nhà văn phải luôn trau dồi vốn sống, phải nhạy cảm trước cuộc đời, phải có đời sống tinh thần phong phú và trải nghiệm sâu sắc; phải có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố chân tài và chân tình
– Những tác phẩm văn học đích thực luôn truyền đến cho người đọc những quan điểm nhân văn tích cực, giúp họ biết thanh lọc tâm hồn và hướng đến cái Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc đời.
c. Chứng minh.
– Mỗi tác phẩm được lựa chọn cần mang nội dung nhân văn sâu sắc và cần làm sáng tỏ nhận định. Tuy nhiên, đây không phải là cảm nhận toàn bộ tác phẩm mà cần tập trung vào các phương diện sau:
+ Tác phẩm là kết tinh của tâm hồn người sáng tác – Tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của nhà văn, là kết quả của quá trình lao động miệt mài nghiêm túc, kết tinh tài năng, sáng tạo, tình cảm, tâm huyết của người nghệ sĩ.
+ Tác phẩm là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng – Nhà văn gửi nỗi lòng, truyền cảm hứng vào từng câu chữ. Khi tiếp nhận, người đọc tắm mình trong thế giới cảm xúc ấy, thả hồn cùng những vui buồn chờ đợi…để cùng rung cảm, nhận thức.
d. Đánh giá, mở rộng, nâng cao.
– Ý kiến nhấn mạnh sức mạnh của tác phẩm văn học bắt nguồn từ nội dung của nó và con đường mà nó đến với người đọc, người nghe. Tuy nhiên để sống được trong lòng độc giả nội dung ấy phải chuyển tải trong một nghệ thuật độc đáo, sáng tạo, có tính thẩm mĩ.
– Ý kiến là định hướng để người đọc tìm hiểu, tiếp cận tác phẩm trong chiều sâu tư tưởng của nó. Đồng thời bồi dưỡng tình yêu, niềm say mê văn học nói riêng, tình nhân ái, tư tưởng sống đẹp cho bạn đọc nói chung.
– Bài học cho quá trình tiếp nhận văn học:
+ Để tạo ra được “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng.” nhà văn cần có sự trải nghiệm, thấu hiểu cuộc đời, yêu thương con người sâu sắc mới có thể gửi vào trang viết của mình những giá trị nhân văn. Nhà văn phải trau dồi vốn sống, phải nhạy cảm trước cuộc đời, phải có đời sống tinh thần phong phú, trải nghiệm sâu sắc.
+ Bạn đọc khi tiếp nhận tác phẩm cần đồng cảm, trân trọng, nâng niu, tiếp cận tác phẩm ở mọi chiều sâu tư tưởng của nó, đón nhận được thông điệp sâu sắc mà nhà văn gửi gắm. Đọc văn là quá trình bạn đọc tự đi tìm chân trời của sự sống để thỏa mãn những xúc cảm thẩm mĩ của mình.
3. Kết bài:
– Đánh giá, khẳng định giá trị của vấn đề nghị luận.
– Liên hệ, mở rộng suy nghĩ.

Bài văn NLVH về ý kiến Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sỹ mang trong lòng
Macxim Gorki từng viết: “Hãy đi sâu vào sáng tác của nhân dân, nó trong lành như nước nguồn ngọt ngào, tươi mát, róc rách từ khe núi chảy ra.” Ý kiến ấy khẳng định: văn chương chân chính luôn chứa đựng tình yêu cuộc sống tha thiết, là kết tinh trong trẻo từ tâm hồn người nghệ sĩ, là suối nguồn mát lành nuôi dưỡng tâm hồn con người. Cùng quan niệm đó, Nguyễn Đình Thi trong bài Tiếng nói của văn nghệ đã nhấn mạnh: “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng.” Câu nói không chỉ khẳng định nguồn cội của tác phẩm văn học mà còn cho thấy vai trò cao quý của văn chương thức tỉnh, nuôi dưỡng, truyền đi sự sống đến muôn người.
Trước hết, “tác phẩm là kết tinh của tâm hồn người sáng tác” bởi nghệ thuật bắt nguồn từ chính những rung động, trải nghiệm và chiêm nghiệm sống sâu xa của người nghệ sĩ. Tác phẩm chân chính không phải là sự sao chép lại hiện thực, mà là hiện thực đã đi qua lăng kính cảm xúc, được nhào nặn bởi tâm hồn người nghệ sĩ. Trong đó, người viết gửi gắm nỗi niềm riêng, lý tưởng sống, thái độ với cuộc đời và những khao khát thẳm sâu trong lòng mình. Chính tình cảm ấy khiến văn chương trở nên chân thực, gần gũi, không sáo rỗng, lên gân. Nó là nơi người nghệ sĩ sống thật nhất với mình.
Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì văn học vẫn chưa trọn vẹn. Một tác phẩm sống lâu bền là tác phẩm có khả năng “truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng”. Nghĩa là tác phẩm phải có sức truyền cảm, chạm vào cảm xúc và lay động nhận thức người đọc. Đọc một tác phẩm hay, người ta không chỉ hiểu mà còn sống trong thế giới của nó, được chia sẻ những rung động, những nghĩ suy, những nỗi đau và vẻ đẹp mà nghệ sĩ từng trải. Văn chương như một chiếc cầu nối giữa tâm hồn người viết và người đọc, giúp con người hiểu hơn về chính mình và về cuộc sống xung quanh.
Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy là một minh chứng tiêu biểu cho nhận định trên. Đó là lời tâm tình chân thành, tha thiết của một người từng sống, từng chiến đấu và từng yêu thương gắn bó với thiên nhiên, với quá khứ. Trăng vừa là hình ảnh trung tâm của bài thơ, vừa là biểu tượng của thiên nhiên vĩnh hằng, vừa là người bạn thủy chung, là nhân chứng của những năm tháng gian lao mà nghĩa tình:
Hồi nhỏ sống với đồng
Với sông rồi với biển
Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỷ
Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa
Trăng gắn bó với con người từ thuở ấu thơ cho đến những năm tháng chiến tranh. Ánh trăng ấy là biểu tượng của sự gắn bó thủy chung giữa con người và quá khứ, giữa thiên nhiên và tuổi trẻ. Nhưng rồi thời gian qua đi, khi hòa bình trở lại, cuộc sống đổi thay, con người cũng dần quên đi ánh trăng năm nào:
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường
Ánh sáng điện hiện đại khiến con người vô tình quay lưng lại với trăng, biểu tượng của một thời đã xa. Cuộc sống tiện nghi làm người ta quên đi những điều giản dị, chân thành, từng gắn bó máu thịt với mình. Nhưng rồi, một tình huống bất ngờ xảy ra “mất điện” khiến con người bỗng chốc gặp lại ánh trăng xưa:
Thình lình đèn điện tắt
Phòng buyn-đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn
Sự xuất hiện của trăng trong bóng tối đột ngột khiến nhân vật trữ tình rưng rưng xúc động. Đó là khoảnh khắc của thức tỉnh, của ký ức ùa về. Đối diện với trăng, con người như đối diện lại với chính mình, với những gì từng thiêng liêng sâu nặng:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng
Trăng không trách, không buồn, vẫn “tròn vành vạnh”, vẫn “im phăng phắc”, vẫn thủy chung, bao dung:
Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình
Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình
Ánh trăng ở đây không chỉ là một hình ảnh thiên nhiên, mà là biểu tượng của nghĩa tình, của quá khứ, của sự nhắc nhở về thái độ sống. Nó khiến con người “giật mình”, thức tỉnh, đối diện với chính sự vô tâm, lãng quên trong lòng mình. Ánh trăng vì vậy trở thành “sợi dây truyền sự sống”, truyền đi những giá trị sống đẹp, nhắc con người sống ân nghĩa, trọn tình với quá khứ, với những gì thiêng liêng đã từng.
Từ bài thơ ấy, nhận định của Nguyễn Đình Thi trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Với người sáng tác, tác phẩm là chốn gửi gắm tâm hồn, là nơi nghệ sĩ chắt lọc những rung động và cảm xúc sâu xa nhất. Với người đọc, văn học không chỉ để giải trí, mà để cảm, để nghĩ, để sống tốt đẹp hơn. Một tác phẩm hay là một ngọn lửa âm ỉ, đủ sức sưởi ấm tâm hồn con người, đưa ta đến gần hơn với cái đẹp và cái thiện trong cuộc sống.
