Đề bài: Làm sáng tỏ ý kiến của nhà thơ William Wordsworth: Thơ là sự biểu lộ của tình cảm mãnh liệt
Dàn ý Làm sáng tỏ ý kiến của nhà thơ William Wordsworth: Thơ là sự biểu lộ của tình cảm mãnh liệt
1. Mở bài
Giới thiệu được vấn đề; thân bài triển khai được vấn đề; Kết bài khái quát được vấn đề
2. Thân bài
a. Giải thích ý kiến:
* Cắt nghĩa
– Thơ: là hình thái văn học đầu tiên của loài người, phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhạc điệu
– Biểu lộ: Biểu hiện ra dưới một hình thức nhất định
-Tình cảm mãnh liệt: Là những rung động sâu xa của người nghệ sĩ trước cuộc đời. Nó không hời hợt, nhạt nhẽo mà mạnh mẽ, sâu sắc
-> Ý kiến đã đề cập đến đặc trưng cơ bản của thơ là thể hiện những tình cảm chân thành nhất, mãnh liệt nhất của nhà thơ bằng những hình nghệ thuật độc đáo
b. Bàn luận
-Xuất phát từ đặc trưng của thơ là thể hiện tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ. Tình cảm là khâu đầu tiên và cũng là khâu sau cùng của một bài thơ. Nếu không có tình cảm, cảm xúc, thơ chỉ là xác chữ khô trên trang giấy, nó không có sức lay động đối với người đọc.Làm thơ chính là người nghệ sĩ đã gói gọn tâm tình mình trong từng câu chữ.
– Nhưng tình cảm trong thơ không phải là cảm xúc hời hợt, thoáng qua trong chốc lát rồi nhanh chóng vụt tắt đi hay thứ tình cảm bản năng, trực tiếp mà là tình cảm được ý thức, thăng hoa, được lắng đọng từ trái tim yêu say đắm, chân thành của nhà thơ. Nhà thơ phải sống rất lâu trong tâm hồn mình, lắng nghe những xao động của cuộc sống, đau đớn sướng khổ cùng nó mới hình thành nên thứ tình cảm chân thành, mãnh liệt nhất. Chất men đắm say chếnh choáng ấy là cội nguồn gọi thức con chữ, là nhịp cầu nối những tâm hồn đồng điệu của người nghệ sĩ với độc giả.
-Khi tình cảm của người nghệ sĩ đã đến độ mãnh liệt nó sẽ tự tìm thấy cho mình một hình thức để bộc lộ ra ngoài, tức là tình cảm ấy chủ động tìm đến với mỗi thể loại, một cách viết, cách sử dụng ngôn từ sao cho phù hợp nhất với nó. Tác phẩm thơ, như vậy, chính là sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa tình cảm của người viết với một hình thức biểu hiện.
c. Làm rõ ý kiến qua tác phẩm Tuổi thơ của Trương Nam Hương( chứng minh)
– Trương Nam Hương (23-10-1963) là người gốc Huế, sinh ra và lớn lên ở Hà Nội và vào TP Hồ Chí Minh từ năm 12 tuổi. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. Hiện sống và viết tại TP Hồ Chí Minh. Cuộc đời với những hành trình thiên di đủ cho Trương Nam Hương những trải nghiệm sống trong chập chùng ký ức, để gửi vào thơ. Thơ của Trương Nam Hương coi trọng khai thác chất liệu ca dao và văn hóa truyền thống, dịu dàng tinh tế trong ngôn ngữ trữ tình. Trong thơ anh có sự giằng xé giữa cảm hứng hương xưa quen thuộc với ý thức tiếp nhận những làn gió mới của thời đại và tâm tình con người”.
– Bài thơ “Tuổi thơ” được in trong tập “Viết tặng những mùa xưa” xuất bản năm 1999
*Tuổi thơ –Những tình cảm mãnh liệt của Trương Nam Hương
-Tình cảm đó trước hết là nỗi nhớ về những tháng ngày tuổi thơ đầy tươi đẹp (đoạn 1)
+ Đó là thế giới tuổi thơ gắn với những hình ảnh thân thuộc của quê hương: đỏ ối trời hoa gạo, mùi bùn non ngai ngái, mùi rơm rạ huây hoai.Nó đã trở thành một phần kí ức không thể nào lãng quên trong trái tim của nhân vật trữ tình
+ Đó còn là những trò chơi tưởng là trò nghịch dại nhưng lại hết sức hồn nhiên vô tư của những đứa trẻ: cho chuồn ngô cắn rốn, bơi qua sống Hồng để rồi “một thân chuối lạc đã vớt con lúc đuối”
– Tình cảm đó còn là nỗi nhớ về những tháng ngày tuổi thơ đầy vất vả cơ cực trong nỗi ám ảnh về chiến tranh (đoạn 2 và 3)
+ Trong kí ức của nhân vật trữ tình, thế giới tuổi thơ không chỉ “đỏ ối trời hoa gạo” mà còn “đỏ rát trời đạn lửa”.Để rồi những đứa trẻ thơ như cậu bé ấy phải “tất tả xuôi ngược” chạy trốn khỏi bom đạn chiến tranh “ngồi hát giữa chập chèng xoong chậu”.
+Hồn nhiên vô tư là thế những nỗi ám ảnh về chiến tranh vẫn hằn sâu trong kí ức của nhân vật trữ tình.Cái âm thanh “u u những hồi còi báo động” đã kéo dài trong suốt chặng đường tuổi thơ của cậu bé.
->Những mảng màu của thế giới tuổi thơ như một lời nhắc nhở:cần biết trân trọng những
tháng ngày đã đi qua để sống tốt hơn trong hiện tại và tương lai
-Tình cảm đó còn là tình yêu, sự trân trọng biết ơn của nhân vật trữ tình với bà và mẹ
+Xuyên suốt cả bài thơ là hình ảnh người bà và mẹ sống trong kí ức tuổi thơ của nhân vật trữ tình.Có lẽ vì thế, nhân vật tữ tình mặc nhiên thể hiện tình cảm của mình không chút giấu diếm: nhớ bà nhớ mẹ những năm giông bão; thương bà thương mẹ những năm chiến tranh.
+Chính mẹ và bà đã thắp lên hi vọng trong trái tim đứa trẻ, giúp cậu bé đi qua những tháng ngày
chiến tranh bằng chính sự hồn nhiên vô tư của mình.
->Bài thơ khép lại bằng âm thanh của tiếng dế tuổi thơ.Âm thanh tuy nhỏ bé nhưng lại giúp những đứa trẻ bước qua những ngày chiến tranh để sống yên bình trong thế giới tuổi thơ của mình.Một lần nữa những mảng màu của thế giới tuổi thơ đã giúp ta trân trọng quá khứ, biết ơn những hi sinh thầm lặng của bà của mẹ và biết sống tốt hơn trong hiện tại
*Tuổi thơ – Những hình thức nghệ thuật độc đáo giúp biểu lộ tình cảm của tác giả (1.0đ)
-Thể thơ tự do phù hợp với việc diễn tả cảm xúc dâng trào của nhân vật trữ tình
-Ngôn ngữ, hình ảnh thơ giản dị, gắn liền với thế giới tuổi thơ và với đồng ruộng quê hương
– Giọng điệu trữ tình thiết tha sâu lắng
->Bài thơ không chỉ là sự tưởng nhớ về quá khứ mà còn là sự khao khát trở lại thời điểm đó, khi mọi thứ đều trong sáng và tươi đẹp. Nó là một lời nhắc nhở cho chúng ta về giá trị của tuổi thơ và sự quan trọng của việc giữ gìn và ghi nhớ những kỷ niệm đẹp đẽ trong lòng mỗi người.
3. Kết bài
– Ý kiến là cơ sở để đánh giá thơ hay và là điều kiện đầu tiên cho sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ vì “thiếu tình cảm thì có thể trở thành người thợ làm những câu có vần chứ không làm được nhà thơ.” Jose Marty – Cuba
– Ý kiến chính là một sự định hướng rất có ý nghĩa cho những người nghệ sĩ chân chính trên hành trình sáng tạo nghệ thuật phải tích luỹ vốn sống, nuôi dưỡng cảm xúc để tìm được nguồn cảm hứng sáng tạo.
– Ý kiến cũng là một sự gợi mở cho người đọc định hướng đánh giá giá trị của thơ ca qua cách biểu hiện cảm xúc của người viết.
– Qua tác phẩm trên, người đọc không chỉ nhận thấy tài năng nghệ thuật mà còn hiểu rõ hơn về cái tôi của người nghệ sĩ. Đó không chỉ là vẻ đẹp tâm hồn phong phú mà còn là những tư tưởng cao cả mang tầm vóc thơi đại và dân tộc.

Bài văn mẫu Làm sáng tỏ ý kiến của nhà thơ William Wordsworth: Thơ là sự biểu lộ của tình cảm mãnh liệt
Trong lịch sử văn học nhân loại, thơ ca luôn được xem là tiếng nói tinh túy nhất của tâm hồn con người. Nếu văn xuôi thiên về kể lại, tái hiện hiện thực bằng những chuỗi sự kiện, thì thơ lại chọn con đường đi thẳng vào cảm xúc, chạm tới phần sâu kín nhất của trái tim. Bởi thế, khi nhà thơ lãng mạn Anh William Wordsworth khẳng định: “Thơ là sự biểu lộ của tình cảm mãnh liệt”, ông không chỉ đưa ra một nhận định mang tính cảm tính, mà đã chạm đến bản chất cốt lõi của thơ ca như một loại hình nghệ thuật đặc thù. Ý kiến ấy không chỉ đúng với thơ ca phương Tây mà còn vang vọng sâu xa trong truyền thống thơ ca phương Đông, nơi thơ từ lâu đã được xem là “tiếng nói của lòng người”, là nơi “tình động mà lời phát”. Qua thời gian, nhận định của Wordsworth vẫn giữ nguyên giá trị, trở thành một thước đo quan trọng để hiểu, cảm và đánh giá thơ ca chân chính.
Trước hết, cần hiểu rõ nội hàm của nhận định này. Thơ, như nhiều nhà nghiên cứu từng khẳng định, là hình thái văn học ra đời sớm nhất của loài người. Ngay từ thuở sơ khai, con người đã dùng lời có nhịp điệu, vần điệu để cất lên những khúc hát lao động, những lời cầu nguyện, những tiếng than thở hay hân hoan trước thiên nhiên và cuộc sống. Khác với ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ thơ mang tính hàm súc, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, có khả năng gợi nhiều hơn tả. “Biểu lộ” trong thơ không chỉ là nói ra, mà là dồn nén, chưng cất, kết tinh cảm xúc để chúng hiện hình trong câu chữ. Còn “tình cảm mãnh liệt” không phải là cảm xúc hời hợt, thoáng qua, mà là những rung động sâu xa, bền bỉ, được lắng lọc qua trải nghiệm sống và suy tư nghệ thuật. Như vậy, nhận định của Wordsworth đã chỉ ra rằng thơ ca trước hết và trên hết là tiếng nói của cảm xúc chân thành, mãnh liệt của người nghệ sĩ; chính cảm xúc ấy quyết định sức sống và giá trị của bài thơ.
Xuất phát từ đặc trưng của thơ, có thể thấy ý kiến của Wordsworth là hoàn toàn xác đáng. Thơ không phải là bản sao của hiện thực, cũng không phải là sự sắp xếp khéo léo của từ ngữ đơn thuần. Nếu thiếu đi cảm xúc, thơ chỉ còn là “xác chữ khô” trên trang giấy, như nhiều nhà phê bình từng cảnh báo. Làm thơ, thực chất là quá trình người nghệ sĩ gói ghém tâm tình của mình vào từng hình ảnh, từng nhịp điệu. Mỗi bài thơ hay đều khởi sinh từ một rung động mạnh mẽ trước đời sống: đó có thể là nỗi nhớ, niềm yêu, nỗi đau, sự phẫn uất hay niềm hân hoan. Chính rung động ấy thôi thúc nhà thơ cầm bút, khiến ngôn từ không còn vô tri mà trở nên có hồn, có sức lay động.
Tuy nhiên, tình cảm trong thơ không phải là cảm xúc bản năng, bột phát rồi tan biến. Đó là cảm xúc đã được ý thức, được lắng đọng và thăng hoa. Nhà thơ phải “sống rất lâu” với cảm xúc ấy trong tâm hồn mình, để nó chín muồi, lắng sâu, rồi mới tìm được hình thức biểu đạt phù hợp. Chính Wordsworth cũng từng nhấn mạnh rằng thơ là “cảm xúc được hồi tưởng trong tĩnh lặng” – nghĩa là cảm xúc mãnh liệt ban đầu cần được chiêm nghiệm, suy tư, để khi bật thành thơ, nó vừa nồng nàn vừa sâu sắc. Nhờ vậy, tình cảm cá nhân của nhà thơ không chỉ là tiếng nói riêng tư, mà còn trở thành nhịp cầu nối với những tâm hồn đồng điệu của độc giả. Khi người đọc bắt gặp trong thơ một nỗi buồn giống nỗi buồn của mình, một niềm vui từng trải qua, hay một kí ức quen thuộc, thơ ca đã hoàn tất sứ mệnh của nó: truyền cảm xúc từ trái tim người viết sang trái tim người đọc.
Khi tình cảm đạt đến độ mãnh liệt, nó sẽ tự tìm cho mình một hình thức biểu hiện phù hợp. Đó là lí do vì sao mỗi bài thơ hay đều là sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và hình thức nghệ thuật. Thể thơ, nhịp điệu, hình ảnh, giọng điệu… tất cả đều được lựa chọn như một tất yếu nội tại, nhằm chuyển tải trọn vẹn nhất dòng cảm xúc đang dâng trào trong tâm hồn nhà thơ. Chính vì thế, không thể có thơ hay nếu chỉ chăm chút hình thức mà thiếu cảm xúc, cũng như không thể có thơ lớn nếu cảm xúc mãnh liệt nhưng không được nâng đỡ bởi nghệ thuật.
Ý kiến của Wordsworth có thể được làm sáng tỏ rõ nét qua bài thơ “Tuổi thơ” của Trương Nam Hương – một thi phẩm giàu chất hoài niệm, nơi cảm xúc là mạch nguồn xuyên suốt toàn bộ cấu trúc tác phẩm. Trương Nam Hương là nhà thơ có cuộc đời gắn với nhiều dịch chuyển không gian sống: sinh ra ở Huế, lớn lên ở Hà Nội, rồi vào TP. Hồ Chí Minh từ năm mười hai tuổi. Chính những hành trình thiên di ấy đã tạo nên trong thơ anh một thế giới kí ức chập chùng, nơi quá khứ và hiện tại luôn đối thoại với nhau. Thơ Trương Nam Hương dịu dàng, tinh tế, giàu chất truyền thống, nhưng cũng mang nỗi day dứt của con người hiện đại khi ngoái nhìn về “những mùa xưa”.
Trong bài thơ “Tuổi thơ”, tình cảm mãnh liệt trước hết được biểu lộ qua nỗi nhớ da diết về những tháng ngày ấu thơ tươi đẹp. Thế giới tuổi thơ hiện lên bằng những hình ảnh rất đỗi thân thuộc của làng quê: “đỏ ối trời hoa gạo”, “mùi bùn non ngai ngái”, “mùi rơm rạ huây hoai”. Đó không chỉ là những chi tiết tả thực, mà là những dấu ấn cảm giác đã in sâu trong trí nhớ, trở thành một phần máu thịt của tâm hồn nhân vật trữ tình. Những trò chơi trẻ con tưởng chừng nghịch dại – “cho chuồn ngô cắn rốn”, “bơi qua sông Hồng” – lại chứa đựng cả một thế giới hồn nhiên, vô tư, nơi con người sống trọn vẹn với thiên nhiên và bạn bè. Khi nhắc đến việc “một thân chuối lạc đã vớt con lúc đuối”, giọng thơ vừa hóm hỉnh, vừa ẩn chứa một nỗi rưng rưng: tuổi thơ không chỉ là niềm vui, mà còn là những khoảnh khắc cận kề nguy hiểm, để rồi càng lớn lên, con người càng thấm thía giá trị của những ngày tháng đã qua.
Không dừng lại ở gam màu tươi sáng, cảm xúc trong “Tuổi thơ” còn trở nên mãnh liệt hơn khi nhà thơ nhớ về những năm tháng tuổi thơ gắn với chiến tranh. Trong kí ức ấy, bầu trời không chỉ “đỏ ối trời hoa gạo” mà còn “đỏ rát trời đạn lửa”. Những đứa trẻ thơ phải “tất tả xuôi ngược” chạy trốn bom đạn, “ngồi hát giữa chập chềnh xoong chậu”. Sự đối lập giữa hồn nhiên trẻ thơ và hiện thực khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên một ám ảnh sâu xa. Âm thanh “u u những hồi còi báo động” vang lên như một điệp khúc buồn, kéo dài suốt chặng đường tuổi thơ, in hằn trong tâm trí nhân vật trữ tình. Chính ở đây, ta thấy rõ tình cảm trong thơ không hề nhạt nhòa, mà là kết quả của những trải nghiệm sống đầy đau đớn, được nhà thơ chưng cất thành những câu chữ vừa giản dị vừa ám ảnh.
Bên cạnh nỗi nhớ tuổi thơ và ám ảnh chiến tranh, tình cảm mãnh liệt trong bài thơ còn thể hiện qua tình yêu thương, sự biết ơn sâu nặng dành cho bà và mẹ. Hình ảnh bà và mẹ xuất hiện xuyên suốt bài thơ như những điểm tựa tinh thần bền vững. Nhân vật trữ tình không giấu giếm cảm xúc của mình: “nhớ bà nhớ mẹ những năm giông bão”, “thương bà thương mẹ những năm chiến tranh”. Chính bà và mẹ đã thắp lên hi vọng trong trái tim đứa trẻ, giúp nó đi qua những tháng ngày khắc nghiệt bằng sự chở che thầm lặng. Tình cảm ấy không ồn ào, mà lắng sâu, bền bỉ, để rồi khi được gọi tên trong thơ, nó trở thành dòng cảm xúc mãnh liệt, chạm tới trái tim người đọc.
Bài thơ khép lại bằng âm thanh “tiếng dế tuổi thơ” – một âm thanh nhỏ bé nhưng giàu sức gợi. Tiếng dế ấy như kết tinh toàn bộ thế giới tuổi thơ: bình dị, mong manh nhưng bền bỉ. Nó giúp những đứa trẻ bước qua chiến tranh, bước qua mất mát để giữ lại trong lòng một miền kí ức yên bình. Qua đó, bài thơ không chỉ là sự hồi tưởng quá khứ, mà còn là lời nhắc nhở: hãy trân trọng những gì đã qua, biết ơn những hi sinh thầm lặng, và sống nhân hậu hơn trong hiện tại.
Những tình cảm mãnh liệt ấy được biểu lộ thành công nhờ những hình thức nghệ thuật phù hợp. Thể thơ tự do giúp cảm xúc tuôn chảy tự nhiên, không bị gò bó. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ giản dị, gần gũi với đồng ruộng, làng quê, với thế giới tuổi thơ, tạo nên sự chân thật và sức gợi lớn. Giọng điệu trữ tình thiết tha, sâu lắng khiến mỗi câu thơ như một lời tự sự, vừa riêng tư vừa có khả năng lan tỏa. Chính sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và nghệ thuật đã làm nên giá trị bền vững của bài thơ, đồng thời minh chứng thuyết phục cho nhận định của Wordsworth.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng ý kiến “Thơ là sự biểu lộ của tình cảm mãnh liệt” là cơ sở quan trọng để đánh giá thơ hay và cũng là điều kiện tiên quyết cho sáng tạo nghệ thuật. Như nhà thơ José Martí từng nói: “Thiếu tình cảm thì có thể trở thành người thợ làm những câu có vần, chứ không làm được nhà thơ.” Ý kiến của Wordsworth vì thế vừa là lời nhắc nhở đối với người sáng tác – phải tích lũy vốn sống, nuôi dưỡng cảm xúc chân thành – vừa là gợi mở cho người đọc trong việc tiếp nhận và thẩm định thơ ca qua chiều sâu cảm xúc mà tác phẩm mang lại. Qua bài thơ “Tuổi thơ” của Trương Nam Hương, người đọc không chỉ nhận ra tài năng nghệ thuật của nhà thơ, mà còn cảm nhận được một tâm hồn phong phú, một trái tim biết rung động mãnh liệt trước cuộc đời. Và chính ở điểm gặp gỡ giữa cảm xúc của người viết và người đọc ấy, thơ ca mới thực sự hoàn tất sứ mệnh cao đẹp của mình.
