Phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Khổng tước vũ

Bình chọn

Đề bài: Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Khổng tước vũ:

Khổng tước vũ

Nguyễn Du

Khổng tước phủ hoài độc,
Ngộ phục bất khả y.
Ngoại lộ văn chương thể,
Trung tàng sát phạt ky.
Nhân khoa dung chỉ thiện,
Ngã tích vũ mao kỳ.
Hạc hải diệc hội vũ,
Bất dữ thế nhân tri.

(Kiều Văn, Thanh Hiên thi tập, NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 139)

 

Dịch nghĩa

Tạng phủ chim công có chất độc,
Lỡ ăn nhầm, không có thuốc chữa.
Bề ngoài có vẻ tốt đẹp,
Nhưng bên trong giấu chất giết người.
Người ta khen bộ nó đẹp,
Ta thì tiếc cho bộ lông kỳ lạ của nó.
Con hạc biển cũng biết múa,
Nhưng chẳng để ai thấy.

 

Dịch thơ:

Không thuốc nào chữa được,
Khi ngộ độc gan công.
Vẻ đẹp lộ ngoài mã,
Chất độc giấu trong lòng.
Người thường khen cái dáng,
Ta chỉ tiếc bộ lông.
Hạc bể cũng biết múa,
Không cho người đời trông.

(Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang)

Phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Khổng tước vũ

Bài làm Phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Khổng tước vũ

1. Mở bài:

– Bài thơ: “Khổng tước vũ” là bài thơ chữ Hán trong “Thanh Hiên thi tập” của Nguyễn Du

– Bài thơ nói về đặc điểm của loài công, qua đó ngầm so sánh với hạc. Từ đó giúp người đọc nhận ra một triết lý nhân sinh.

Nhà thơ Chế Lan Viên từng quan niệm rằng: “Mỗi câu thơ là một lần lặn vào trang giấy, lặn vào cuộc đời rồi lại ngoi lên”. Người nghệ sĩ muốn sáng tạo chân chính phải dấn thân vào hiện thực, phải trải nghiệm để tìm ra những chiêm nghiệm sâu sắc và gửi gắm trong tác phẩm. Với Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc, mỗi áng thơ đều là kết tinh của vốn sống phong phú và tâm hồn nhạy cảm trước đời. Bài thơ chữ Hán “Khổng tước vũ” trong Thanh Hiên thi tập đã thể hiện rõ quan niệm nhân sinh ấy khi ngòi bút ông hướng đến triết lý về sự tương hợp giữa hình thức và nội dung, giữa cái vỏ hào nhoáng và giá trị đích thực bên trong

2. Thân bài:

* Nhan đề

– Đề tài về quen thuộc: loài vật.

– Nhan đề “Khổng tước vũ” nói về điệu múa mê người của chim công, điều này mang đến nhiều dự cảm và khơi gợi nhiều rung cảm thẩm mĩ nơi người đọc.

* Khái quát cấu tứ,  phân tích và đánh giá tình cảm qua từng phần của bài thơ

– Cấu tứ bài thơ chính là cánh cửa đưa ta đến với thế giới thơ.

– Nhà thơ mở đầu ý thơ bằng việc nói về tạng phủ con công rất độc trong khi bộ lông bên ngoài rất đẹp. Từ đó, nhà thơ khéo léo so sánh qua hình ảnh con hạc bể cũng biết múa nhưng không nhằm mục đích khoe mẽ như con công.

– Vẻ đẹp của con công gợi người đọc nghĩ đến kiểu người: “Khẩu phật tâm xà” rất đáng sợ không như vẻ đẹp của sự khiêm nhu, cống hiến lặng thầm của con hạc bể.

* Hình ảnh, chi tiết

– Trước hết, 4 câu thơ đầu nói về đặc điểm của con công:

Không thuốc nào chữa được,

Khi ngộ độc gan công.

Vẻ đẹp lộ ngoài mã,

Chất độc giấu trong lòng.

+ Đặc điểm của những loài khổng tước với vẻ ngoài rực rỡ, tốt đẹp nhưng ẩn chứa chất độc khủng khiếp bên trong.

+ Nguyễn Du ngầm ám chỉ một kiểu người, một lớp người trong xã hộ thời bấy giờ.

+ Thể thơ ngũ ngôn Đường luật, nhịp thơ 2/3, cách gieo vần chân gián cách

èTính triết lý ở đây là ở chỗ Nguyễn Du không miêu tả sự đối lập giữa người xấu và người tốt mà tác giả đang miêu tả cùng một con người với hai bộ mặt khác nhau. Một bộ mặt tốt lành đẹp đẽ nhưng đầy giả tạo được phủ ở bên ngoài để che đậy tâm địa xấu xa, độc ác, nham hiểm đầy thủ đoạn ở bên trong. Kiểu người này thật đáng sợ và đáng lên án.

– Bên cạnh miêu tả đặc điểm của con công, Nguyễn Du còn trực tiêp bộc lộ thái độ, tình cảm của mình qua 4 câu thơ tiếp theo:

Người thường khen cái dáng,
Ta chỉ tiếc bộ lông.
Hạc bể cũng biết múa,
Không cho người đời trông.

+ Phép đối lập giữa thái độ của người và ta

+ Ông so sánh chim công với một loài vật khác là con hạc. Chim hạc cũng biết múa như công nhưng việc múa của chim hạc không phải để phô diễn, không phải để khoe dáng, không phải để gây chú ý và thu hút người khác. Nó múa lặng lẽ và khiêm nhu.

è Công và hạc gợi cho người đọc hình dung ra hai kiểu người tồn tại trong xã hội trong triết lý của Nguyễn Du. Đó là những con người phản diện thể hiện lời lẽ khoa trương, ồn ào, lộng lẫy nhằm giấu đi mưu mô, thủ đoạn hay những xảo trá, lừa dối, dung tục tầm thường và kiểu người chính diện thể hiện sự phong nhã, thanh cao, thuần khiết và oai phong lẫm liệt

* Nghệ thuật

– Thể thơ lục ngôn Đường luật, với cách ngắt nhịp 2/3, gieo vần chân gián cách,

– Hình ảnh ước lệ tượng trưng, từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm.

– Tính quy phạm qua phép đối đúng luật của thể thơ Đường giữa các câu 3-4, 5-6;

* Đánh giá chung nội dung và nghệ thuật

– Bài thơ rất thành công cả về nội dung và nghệ thuật

– Các loài con giữ vai trò quan trọng trong cảm hứng nghệ thuật của Nguyễn Du.

– Nguyễn Du thường dùng hình ảnh động vật với cảm hứng triết lý để ẩn dụ cho một minh triết nào đó.

3. Kết bài: Khẳng định lại sự độc đáo của bài thơ và ý nghĩa cúa nó đối với việc đem lại cách nhìn mới, cách đọc mới cho độc giả.

– Bài thơ Khổng tước vũ  mang đến những thông điệp sâu sắc về con người, về cách nhìn người

– Bài thơ thể hiện đặc điểm của thiên tài văn học Nguyễn Du.

Mỗi tác phẩm văn chương đều là kết quả của cuộc hành trình khám phá đời sống của mỗi người nghệ sĩ.  Bài thơ “Khổng tước vũ”  từ việc miêu tả loài vật đã thể hiện được những những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trong cuộc sống gắn bó, hòa hợp với tự nhiên. Bài thơ cũng mang đến những triết lý sâu sắc về sự tương quan giữa hình thức bên ngoài và bản chất bên trong. Triết lý này càng đặc biệt có ý nghĩa với con người trong xã hội ngày nay. Rõ ràng cái nhìn của Nguyễn Du không chỉ gói gọn trong một không gian, một thời gian cụ thể mà là tầm nhìn của: “con mắt trông thấu cả 6 cõi, tấm lòng nhìn suốt cả nghìn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân).

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online