Phân tích bài thơ Thuật hứng Bài 3 để thấy được vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi

Bình chọn

Đề bài: Anh/chị hãy Phân tích bài thơ Thuật hứng Bài 3 để thấy được vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi.

Thuật hứng (bài 3)

Một cày một cuốc thú nhà quê,
Áng(1) cúc lan chen vãi(2) đậu kê.
Khách đến chim mừng hoa xảy(3) rụng,
Chè tiên nước chín(4) nguyệt đeo về.
Bá Di(5) người rặng(6) thanh là thú,
Nhan Tử(7) ta xem ngặt ấy lề(8).
Hễ tiếng dữ lành tai quản(9) đắp,
Câu ai khen liền lệ ai chê(10).

(Nguyễn Trãi – Hợp tuyển thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009, tr. 664)

Chú thích:
(1) áng: đám cây, khóm cây.
(2) vãi: ném, rải; ở đây nghĩa là gieo hạt.
(3) xảy: bông, chột.
(4) chè tiên: nấu nước chè; chín: gánh (nước).
(5) Bá Di: cùng Thúc Tề là hai người con của vua nước Cô Trúc thời nhà Thương. Khi vua chết, hai người nhường ngôi cho nhau, không ai chịu lên làm vua, cùng rời bỏ nước Cô Trúc. Khi Chu Vũ Vương diệt nhà Thương, cả hai đều đi ở ẩn, vì không muốn ăn thóc nhà Chu nên hái rau vi ăn chống đói, sau chết trong núi Thú Dương.
(6) rặng: nói rằng.
(7) Nhan Tử: tức Nhan Uyên, học trò giỏi của Khổng Tử, nhà nghèo, thông minh, nhanh nhẹn, hiếu học, chuộng Lễ, mất sớm khi mới 31 tuổi.
(8) ngặt: khó khăn, ngặt nghèo; lề: lề lối, nền nếp.
(9) quản: mặc kệ; tai quản đắp: ý nói tiếng dữ lành mà người đời khen hay chê, ta đều bịt tai không nghe.
(10) Câu… lệ…: ý nói không cầu ai khen mà cũng không sợ ai chê.

Phân tích bài thơ Thuật hứng Bài 3 – Mẫu 1

Nguyễn Trãi – bậc anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất – không chỉ để lại dấu ấn bằng trí tuệ và công lao với non sông, mà còn bằng một tâm hồn sáng trong, sâu lắng. Khi rời chốn quan trường đầy sóng gió, ông tìm về với ruộng vườn, với cỏ cây, với nhịp sống thôn quê bình dị. Bài thơ “Thuật hứng” (bài 3) chính là tiếng lòng của một con người từng trải, chọn ẩn dật mà không hề lụi tàn chí khí, chọn thanh đạm mà vẫn rực sáng nhân cách.

Mở đầu bài thơ là một bức tranh đời sống giản đơn nhưng chan chứa niềm vui:

“Một cày một cuốc thú nhà quê,

Áng cúc lan chen vãi đậu kê.”

Nhịp thơ chậm rãi với điệp từ “một” gợi cảm giác đều đặn, khoan thai. “Cày”, “cuốc”, “đậu kê” – những hình ảnh mộc mạc của đời sống nông dân – hiện lên không chút tô vẽ. Nhưng chính trong sự giản dị ấy, ta cảm nhận được một niềm an nhiên sâu sắc. Với Nguyễn Trãi, lao động không chỉ để mưu sinh mà còn là “thú”. Giữa ruộng vườn, ông tìm thấy sự cân bằng cho tâm hồn sau bao năm bão táp. Đặc biệt, “cúc”, “lan” không chỉ là hoa, mà còn là biểu tượng của khí tiết và sự thanh cao. Giữa đất đai bình thường, những loài hoa ấy vẫn lặng lẽ tỏa hương – cũng như Nguyễn Trãi giữa cuộc đời nhiễu nhương vẫn giữ trọn cốt cách của mình.

Phân tích bài thơ Thuật hứng Bài 3 để thấy được vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi

Hai câu thơ tiếp theo mở ra một thế giới vừa sinh động vừa ấm áp:

“Khách đến chim mừng hoa xảy rụng,

Chè tiên nước ghín nguyệt đeo về.”

Thiên nhiên như có linh hồn. “Chim mừng”, “hoa xảy rụng” – cảnh vật dường như cũng vui theo bước chân người tri kỷ. Cuộc sống ẩn dật của Nguyễn Trãi không hề cô tịch; đó là sự tĩnh lặng có bạn hiền, có sẻ chia. Hình ảnh “chè tiên”, “nguyệt đeo về” gợi nên phong vị tao nhã: chén trà, vầng trăng, cuộc đàm đạo giữa những tâm hồn đồng điệu. Con người hòa làm một với đất trời, sống giữa thiên nhiên mà không hề lạc lõng. Ở đó, ta thấy một tâm hồn yêu đời, yêu cảnh, nhạy cảm trước từng chuyển động nhỏ của tạo vật.

Đến hai câu luận, giọng thơ trở nên suy tư khi nhắc đến những tấm gương xưa:

“Bá Di người rặng thanh là thú,

Nhan Tử ta xem ngặt ấy lệ.”

Bá Di, Nhan Tử – những biểu tượng của khí tiết và đức hạnh – được Nguyễn Trãi nhắc tới như những tri âm trong tư tưởng. Ông xem sự thanh bạch là niềm vui, xem nghèo khó như một lẽ sống đáng trọng. Không phải ông không đủ tài để hưởng phú quý, mà là ông chủ động chọn con đường giữ gìn đạo nghĩa. Cái “ngặt” không làm ông chùn bước; trái lại, nó trở thành thước đo phẩm giá. Ở đây, ta bắt gặp một Nguyễn Trãi kiêu hãnh trong lặng lẽ, cao quý trong thanh đạm.

Hai câu kết là lời khẳng định đầy bản lĩnh:

“Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp,

Câu ai khen lẽ ai chê.”

“Tài quản đắp” – bịt tai trước lời khen chê – không phải là sự thờ ơ, mà là thái độ sống vững vàng. Sau bao thăng trầm, Nguyễn Trãi hiểu rằng dư luận có thể đổi thay, nhưng nhân cách thì không thể dao động. Ông không cầu được tán dương, cũng không sợ bị chê trách. Đó là khí phách của một con người đã trải qua vinh quang lẫn oan khiên, nhưng vẫn giữ trọn lòng ngay thẳng.

“Thuật hứng” (bài 3) vì thế không chỉ là lời tự bạch về cuộc sống ẩn cư, mà còn là bản tuyên ngôn về nhân cách. Nguyễn Trãi hiện lên với phong thái ung dung giữa ruộng vườn, với tâm hồn thanh sạch giữa cuộc đời nhiều bụi bặm. Ông tìm về thiên nhiên không phải để trốn chạy, mà để bảo toàn khí tiết, để giữ cho mình một cõi trong trẻo không bị vẩn đục bởi danh lợi.

Bài thơ khép lại, nhưng dư âm còn đọng mãi: sống giữa đời, điều đáng quý nhất không phải là vinh hoa phú quý, mà là một tâm hồn trong sáng, một nhân cách không cúi mình trước thị phi. Và đó chính là vẻ đẹp bất tử của Nguyễn Trãi.

Phân tích bài thơ Thuật hứng Bài 3 – Mẫu 2

Hêghen từng khẳng định: “Thi ca là thứ nghệ thuật chung của tâm hồn đã trở nên tự do… diễn ra riêng tư trong không gian bên trong và thời gian bên trong của tác giả và cảm xúc”. Quả thật, thơ ca đích thực luôn bắt nguồn từ miền sâu kín ấy – nơi cảm xúc chín muồi, nơi tâm hồn được cởi bỏ mọi ràng buộc để tự do cất tiếng. Xuân Diệu cũng từng đòi hỏi văn chương phải “chín đủ cảm xúc”. Và Thuật hứng (bài 3) của Nguyễn Trãi chính là một thi phẩm như thế: đọc lên tưởng nhẹ nhàng, mà khép lại rồi vẫn còn bâng khuâng mãi.

Hai câu mở đầu đưa người đọc về với một không gian thôn quê bình dị:

“Một cày một cuốc thú nhà quê,
Áng cúc lan chen vãi đậu kê.”

Điệp từ “một” tạo nên nhịp thơ khoan thai, như nhịp bước ung dung giữa ruộng đồng. “Cày”, “cuốc”, “đậu kê” – những hình ảnh đời thường mộc mạc – không hề tầm thường, bởi trong đó chứa đựng niềm vui sống. Sau những năm tháng dấn thân giữa chốn quan trường đầy mưu toan, Nguyễn Trãi tìm về với ruộng vườn như tìm về chính mình. Giữa “cúc lan” thanh khiết, giữa mùi đất và hạt giống, ông tìm thấy sự an yên mà danh lợi không thể đem lại. Bức tranh quê hiện ra không cầu kỳ, nhưng đằm thắm tình yêu quê hương và khát vọng sống trong sạch.

Đến khi có khách ghé thăm, cuộc sống ấy vẫn không đổi thay:

“Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng,
Chè tiên nước kín nguyệt đeo về.
Bá Di người rặng thanh là thú,
Nhan Tử ta xem ngặt ấy lề.”

Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, “chim mừng”, “hoa xẩy rụng” – cảnh vật hòa chung niềm vui với con người. Không có cao lương mỹ vị, chỉ có “chè tiên”, có ánh trăng “nguyệt đeo về”, vậy mà vẫn đủ đầy. Đó là cái đủ của tâm hồn, cái đủ của tình tri kỷ. Nhắc đến Bá Di, Nhan Tử – những biểu tượng của khí tiết và đức hạnh – Nguyễn Trãi như bộc bạch lòng mình: ông xem thanh bạch là niềm vui, coi nghèo khó là lẽ thường của người giữ đạo. Trong sự “ngặt” ấy không có tủi hờn, mà là một sự tự trọng sâu xa, một lựa chọn sống đầy bản lĩnh.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một quan niệm sống dứt khoát:

“Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp,
Cầu ai khen liễn lệ ai chê.”

Sau bao sóng gió, bao oan khiên, Nguyễn Trãi hiểu hơn ai hết sự mong manh của lời khen chê. Ông chọn “tai quản đắp” – bịt tai trước thị phi – để giữ lòng mình thanh thản. Không cầu được ngợi ca, cũng chẳng sợ bị phê phán, đó là tư thế của một nhân cách lớn. Sống giữa đời mà không để đời cuốn đi, ấy mới là bản lĩnh thực sự.

Thuật hứng (bài 3) vì thế không chỉ là bức tranh về cuộc sống ẩn cư, mà còn là lời tự bạch của một tâm hồn từng trải. Nguyễn Trãi hiện lên giản dị giữa ruộng đồng, chan hòa cùng thiên nhiên, nhưng bên trong là tấm lòng son sắt với nước với dân. Tư tưởng thân dân – vì dân mà hành động, vì dân mà trăn trở – đã làm nên tầm vóc lớn lao của ông trong lịch sử dân tộc.

Về nghệ thuật, bài thơ mang giọng điệu nhẹ nhàng mà sâu lắng, ngôn ngữ trong sáng, đăng đối cổ điển. Nguyễn Trãi không chỉ là bậc anh hùng, mà còn là người mở đường cho thơ Nôm, sáng tạo hình thức thất ngôn xen lục ngôn độc đáo, đưa chất liệu đời thường, cả tục ngữ dân gian vào thi ca một cách tự nhiên. Ở ông, trí tuệ và cảm xúc hòa quyện, hào hùng mà vẫn trữ tình, giản dị mà vẫn cao nhã.

Đọc Thuật hứng, ta không chỉ thấy một Nguyễn Trãi ẩn mình nơi thôn dã, mà còn thấy một “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” – như lời vua Lê Thánh Tông ngợi ca. Ánh sao Khuê ấy không chỉ tỏa sáng trong sử sách, mà còn lấp lánh trong từng vần thơ, soi rọi cho bao thế hệ sau về một cách sống: thanh sạch giữa đời, vững vàng trước thị phi, và luôn giữ trong tim một tấm lòng trung nghĩa.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online