Khuynh hướng lãng mạn trong văn học Việt Nam

5/5 - (1 bình chọn)

Khái niệm

– Chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu văn học xuất hiện ở Tây Âu sau Cách mạng tư sản Pháp 1789 với các đại diện tiêu biểu: Victo Huy go, Satôbriăng, Muytxê, Lamactin, Puskin, Bai rơn…Đây cũng là thuật ngữ chỉ một phương pháp sáng tác thiên về tái tạo hiện thực, coi trọng yếu tố chủ quan của người nghệ sĩ (lãng mạn trong tiếng Hán có nghĩa là sóng tràn bờ).Chủ nghĩa lãng mạn còn là một khuynh hướng thẩm mỹ được khơi nguồn từ sự khẳng định cái tôi cá nhân cá thể được giải phóng về tình cảm, cảm xúc và trí tưởng tượng. Nó phá vỡ tính duy lý, tính quy phạm mực thước của văn chương cổ điển. Nó thích hợp với công chúng thanh niên vì tuổi trẻ nói chung giàu nhiệt tình và mộng mơ, thích những điều mới lạ, độc đáo, khác thường.

Đặc trưng của văn học lãng mạn

– Nếu chủ nghĩa hiện thực thì nghiêng về phản ánh, chủ nghĩa lãng mạn nghiêng về bộc lộ. Chủ nghĩa hiện thực thì thấy thế nào miêu tả thế ấy bằng phương pháp điển hình hóa. Chủ nghĩa lãng mạn cảm và suy nghĩ thế nào viết thế ấy. Chủ nghĩa hiện thực nghiêng về xu hướng hướng ngoại. Chủ nghĩa lãng mạn lại nghiêng về xu hướng hướng nội. Một bên xem cuộc sống là đối tượng khách thể để miêu tả,một bên lấy cái Tôi làm trung tâm để thể hiện. Có thể nói đặc trưng lớn nhất của văn học lãng mạn là lấy tình cảm làm trung tâm, không quan trọng yếu tố cốt truyện. Đặc biệt, văn học lãng mạn có những quan điểm mới về cái đẹp, cho rằng nghệ thuật vị nghệ thuật, thơ đơn thuần là thơ.

– Chủ nghĩa lãng mạn là sự phản ứng chống lại xã hội đương thời, con người muốn thoát li thực tế tìm đến một thế giới khác giúp con người quên đi cuộc sống mà họ cảm thấy chán ghét, vẽ ra một cuộc sống làm thỏa mãn “cái tôi” bị tổn thương của con người, nên thế giới trong chủ nghĩa lãng mạn là thế giới mộng tưởng, đề cao tình cảm và tự do cá nhân. Chủ nghĩa lãng mạn chia thành hai xu hướng. Xu hướng tích cực phủ nhận thực tại xã hội, những sáng tác của họ phù hợp với lợi ích của nhân dân, về cơ bản vẫn giữ được tinh thần đấu tranh xã hội, bất bình với thực tại, các nhà lãng mạn muốn tìm ra giải pháp chống lại những tệ nạn xấu xa của xã hội.. , song còn mang tính cải lương, chưa đủ mạnh mẽ. Xu hướng tiêu cực lại có cái nhìn quá bi quan, chán nản, thi vị hóa hiện thực, vị kỉ hóa cá nhân một cách thái quá, kêu gọi con người thoát ly hiện thực.

– Nhìn chung, văn học lãng mạn đã giải phóng cái tôi cá nhân một cách triệt để sau hàng nghìn năm bị kìm hãm, đề cao tình cảm cá nhân, đặt con người trở về những tình cảm giản dị nhất, ước mơ bình thường nhất mà bấy lâu nay văn học không dám nói do sự hà khắc của chế độ phong kiến.

Quá trình phát triển

Ở Việt Nam, văn học lãng mạn bao gồm phong trào thơ mới và văn xuôi lãng mạn. Có thể chia thành từng thời kì sau:

– Thời kỳ 1930-1935

Đây là giai đoạn đánh dấu sự ra đời của phong trào thơ mới với những cái tên xuất sắc như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu… và văn xuôi lãng mạn với đại diện tiêu biểu là nhóm tự lực văn đoàn.

 Bộ phận văn học tư sản, tiểu tư sản thời kỳ này là văn học lãng mạn: Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và thơ mới. Đối với thơ mới, sau bài khởi xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ …Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng “đem những ý tưởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, những tình cảm cũ”. Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt bởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra không thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới.

Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tập Mấy vần thơ (1935). Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên …

Tiểu thuyết của nhóm tự lực văn đoàn trước mắt gây được tiếng vang, với những đại diện tiêu biểu là Nhất Linh, Khái Hưng, và Thạch Lam.

– Giai đoạn 1936 – 1939

Đây là giai đoạn chứng kiện sự giao thoa giữa yếu tố hiện thực và lãng mạn trong văn học lãng mạn, các nhà văn trước sự tác động của các cuộc biểu tình, chiến đấu và hoạt động của mặt trận dân chủ bắt đầu chú ý hơn đến cuộc sống hiện thực của con người. Đặc biệt được thể hiện trong văn xuôi của Thạch Lam, yếu tố hiện thực được đưa vào rất nhiều. Đối với phong trào thơ mới, các nhà thơ vẫn đề cao tình cảm cá nhân, và tuyệt đối hóa cái tôi. Bên cạnh những tình cảm tích cực của Xuân Diệu, nỗi buồn và tiếc nuối quá khứ của Vũ Đình Liên, tình yêu nước của Huy Cận, thơ mới bắt đầu đi vào giai đoạn thoái trào.

– Giai đoạn 1940-1945

Văn học lãng mạn bước vào giai đoạn thoái trào, trước sự kêu gọi đấu tranh giải phong dân tộc, văn học lãng mạn đã không còn tiếp tục có thể thực hiện chức năng của nó. Các nhà văn rơi vào trạng thái bế tắc, các tác phẩm tuyệt đối hóa cá nhân một cách quá mức trong khi đất nước đang bước vào giai đoạn mới, đòi hỏi văn học có những chức năng mới. Văn học lãng mạn kết thúc là một sự tất yếu, hợp với quy luật của lịch sử, nhường chỗ cho chủ nghĩa văn học khác với những chức năng khác.

Văn học lãng mạn, nhìn ở góc độ tích cực đã đem đến cho nền văn học Việt Nam sự cách tân mới mẻ về hình thức và nội dung, làm tiền đề cho sự phát triền của văn học sau này. Chỉ tồn tại một thời gian ngắn nhưng đã để lại cho văn học nước ta những tác phẩm bất hủ mà không bao giờ ta có thể tìm lại ở những thời kì văn học khác.

Đặc điểm chính về nội dung của chủ nghĩa lãng mạn

1. Đề cao cái tôi cá nhân

  • Nhấn mạnh cái tôi với lý tưởng thẩm mỹ riêng, khác biệt rõ với chủ nghĩa cổ điển.

  • Đặt con người cá nhân (tình cảm, khát vọng, ước mơ, lý tưởng) làm trung tâm.

2. Đề cao mộng tưởng

  • Là phản ứng chống lại xã hội đương thời ngột ngạt, tù túng.

  • Hướng con người đến thế giới lý tưởng, mộng mơ, thoát ly thực tại.

    • Mộng tưởng tích cực: nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, niềm tin vào cái đẹp.

    • Mộng tưởng tiêu cực: bi quan, thoát ly, tìm về quá khứ, hoặc đắm chìm vào u sầu.

3. Đề cao tình cảm

  • Chủ nghĩa lãng mạn còn được gọi là chủ nghĩa tình cảm.

  • Tôn vinh tình yêu, hôn nhân, tình bạn, sự hòa hợp với thiên nhiên.

  • Đào sâu thế giới nội tâm con người: những rung động, xao xuyến, cô đơn, u sầu, khát vọng, nổi loạn.

  • Dù đôi khi u sầu, cũng có những nhà văn hướng lý tưởng xã hội, tiêu biểu: Victor Hugo với quan niệm “linh hồn con người cần lý tưởng hơn thực tế”.

4. Đề cao tự do

  • Đề cao tinh thần tự do, không chấp nhận ràng buộc.

  • Đề cao tự do cá nhân, tự do sáng tạo, chủ trương phóng túng, thoát khỏi mọi khuôn khổ.

Đặc điểm chính về nghệ thuật của chủ nghĩa lãng mạn

1. Đề tài

  • Mở rộng: không chỉ giới quý tộc, cao sang mà còn toàn bộ đời sống, mọi tầng lớp.

  • Viết về tất cả vấn đề trong xã hội, không phân biệt cao thấp, sang hèn.

2. Nhân vật

  • Là cá nhân dị biệt, không phải nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình (như hiện thực).

  • Hay được đặt trong những hoàn cảnh mơ hồ, không gắn chặt với đời sống thực tế.

  • Nhân vật mang tính nổi loạn, không vừa vặn chuẩn mực thông thường.

3. Thể loại

  • Phong phú, đa dạng, phổ biến nhất là thơ trữ tình và tiểu thuyết.

  • Thơ chuộng thể tự do, không bị ràng buộc quy luật.

4. Ngôn ngữ

  • Tự do, tự nhiên, phá bỏ khuôn mẫu.

  • Ngôn ngữ trữ tình, giàu nhạc tính, cá thể hóa, chứa đầy cảm xúc chủ quan.

Một số tài liệu tham khảo

1. Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học

Loader Loading...
EAD Logo Taking too long?

Reload Reload document
| Open Open in new tab

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online