Đề bài: Viết bài văn phân tích bài thơ “Ru hoa” của Ngô Văn Phú.
RU HOA
Ru hoa, mẹ hát theo mùa
Cái hoa khép mở tựa hồ mắt con
Mẹ quen chân lấm tay bùn
Lấy đâu hoa quế, hoa hồng mà ra.
Dẫu yêu hoa mận, hoa mơ,
Cái liềm kéo áo, cái bừa núi chân.
Ba cũ rét mấy tuần xuân
Mẹ đem hoa lúa kết thành lời ru.
Sen mùa hạ, cúc mùa thu
Hoa đồng cỏ nội, bốn mùa gọi con
(Ru hoa – Ngô Văn Phú – NXB Hội Nhà văn 2007, trang 113)
Dàn ý Phân tích bài thơ Ru hoa của tác giả Ngô Văn Phú
I. Mở bài
-
Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
-
Ngô Văn Phú là nhà thơ gắn bó sâu sắc với mảnh đất và con người nông thôn Bắc Bộ.
-
Bài thơ “Ru hoa” là tác phẩm tiêu biểu của ông, qua đó tác giả khắc họa hình ảnh người mẹ tần tảo, lam lũ mà giàu yêu thương qua những lời ru gắn với hoa cỏ mộc mạc.
-
-
Bài thơ đã gợi lên sự xúc động sâu xa trong lòng người đọc về tình mẹ bao la, đức hi sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam.
II. Thân bài
1. Khái quát chung về tác phẩm
-
Bài thơ viết theo thể thơ lục bát, một thể thơ truyền thống rất phù hợp để diễn tả lời ru.
-
Gồm năm cặp lục bát, giọng điệu trong trẻo, dịu dàng, thấm đẫm tình mẫu tử.
-
Tác giả gửi gắm qua đó tấm lòng yêu thương, trân trọng những người mẹ tảo tần vì con.
2. Nội dung, chủ đề chính của bài thơ
-
Bài thơ mở ra bằng lời ru ngọt ngào của người mẹ, đưa con vào giấc ngủ bằng những hình ảnh thân quen của hoa mận, hoa mơ, hoa lúa, hoa hồng… Tất cả đều là những loài hoa dân dã, gần gũi với làng quê Bắc Bộ.
-
Đằng sau lời ru êm ái ấy là hình ảnh người mẹ lam lũ, nhọc nhằn, cả đời gắn bó với “chân lấm tay bùn”, mưu sinh vất vả để nuôi con khôn lớn.
-
Từ đó, bài thơ ca ngợi tình yêu thương vô bờ của người mẹ dành cho con, tấm lòng bao dung, hi sinh, luôn dành cho con những gì tinh khôi, đẹp đẽ nhất.
-
Đồng thời, gợi lên tình cảm biết ơn, trân trọng người mẹ, tình yêu với quê hương, cội nguồn.
3. Phân tích nghệ thuật tiêu biểu của bài thơ
-
Thể thơ lục bát giàu nhạc tính, nhịp nhàng, gieo vần ngọt ngào, rất phù hợp để tái hiện lời ru, tạo âm hưởng dịu dàng, sâu lắng.
-
Hình ảnh thơ gần gũi, mộc mạc, đậm sắc quê hương đồng bằng Bắc Bộ: hoa mận, hoa mơ, hoa lúa, hoa hồng, cái liềm, cái bừa…
-
Biện pháp tu từ:
-
Liệt kê nhiều loài hoa dân dã để khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên và làm nền cho tình yêu thương của mẹ.
-
Nhân hoá, so sánh, ẩn dụ làm cho những hình ảnh trong bài thơ thêm sống động, giàu cảm xúc.
-
Thành ngữ “chân lấm tay bùn” gợi hình ảnh người mẹ nông dân tảo tần, vất vả suốt đời vì con.
-
-
Ngôn ngữ trong sáng, giản dị mà chứa chan tình cảm.
III. Kết bài
-
Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ: “Ru hoa” là khúc ca dịu ngọt về tình mẫu tử, ca ngợi những người mẹ Việt Nam đôn hậu, hi sinh lặng thầm vì con.
-
Đọc bài thơ, ta thêm yêu kính, biết ơn mẹ, và hiểu rằng mỗi người cần biết trân trọng, giữ gìn những giá trị tình thân giản dị nhưng thiêng liêng ấy.

Bài văn mẫu Phân tích bài thơ Ru hoa của tác giả Ngô Văn Phú
Tình mẫu tử từ lâu đã trở thành nguồn thi cảm vô tận của thi ca Việt Nam. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng, bất biến, là dòng suối trong ngần nuôi dưỡng tâm hồn con người qua bao thế hệ. Bài thơ Ru hoa của nhà thơ Ngô Văn Phú chính là một minh chứng tiêu biểu cho tình mẫu tử thiêng liêng cao quý. Bài thơ đã khắc họa sâu sắc hình ảnh người mẹ tảo tần, hy sinh, qua đó ngợi ca vẻ đẹp tình mẫu tử giản dị mà lớn lao. Bằng hình ảnh hoa cỏ dân dã cùng lời ru dịu ngọt, bài thơ đã gieo vào lòng người đọc những xúc động thầm lặng mà thấm thía.
Bài thơ Ru hoa là tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Ngô Văn Phú, được in trong tập thơ cùng tên năm 1973. Bài thơ được viết theo thể lục bát truyền thống, một thể thơ mềm mại, dịu dàng, tha thiết. Ngay nhan đề của bài thơ đã gợi lên một không gian đậm chất dân gian: lời ru và hoa. Đây đều là những hình ảnh thân thuộc, gần gũi với làng quê Bắc Bộ, cái nôi nuôi dưỡng biết bao thế hệ người Việt bằng những câu hát, điệu hò. Xuyên suốt bài thơ là lời ru của người mẹ, không chỉ ru con ngủ mà còn gửi gắm cả cuộc đời vất vả, nỗi niềm yêu thương, hy vọng vào tương lai của con. Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã mở ra một không gian yên ả, dịu dàng:
Ru hoa, mẹ hát theo mùa
Cái hoa khép mở tựa hồ mắt con
Lời ru của mẹ quyện hòa cùng những bông hoa khép nở, nhẹ nhàng như ánh mắt của đứa con thơ. Hình ảnh hoa không chỉ đơn thuần là vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn là ẩn dụ cho con, cho sự tiếp nối, niềm hy vọng và yêu thương lớn nhất đời mẹ. Từ đó, lời ru không chỉ đưa con say giấc ngủ mà còn là sợi dây tinh thần kết nối mẹ với thiên nhiên, đất trời, gieo vào tâm hồn con trẻ tình yêu đối với cuộc sống. Thế nhưng, ẩn sau sự dịu dàng của lời ru ấy lại là hình ảnh người mẹ nông dân lam lũ, nhọc nhằn, vất vả:
Mẹ quen chân lấm tay bùn
Lấy đâu hoa quế, hoa hồng mà ra.
Một câu thơ thật mộc mạc, giản dị nhưng gợi lên cả một đời vất vả. Thành ngữ “chân lấm tay bùn” đã khắc họa lại hình dáng của người mẹ, người phụ nữ quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Mẹ không có hoa quế, hoa hồng quý phái sang trọng, mẹ chỉ có những bông hoa đồng nội, đó là hoa mận, hoa mơ, hoa lúa… mọc lên từ chính giọt mồ hôi của mẹ. Nhưng chính những điều bình thường đó lại làm bật lên vẻ đẹp cao quý của tình mẹ, vì tình thương của mẹ không nằm ở sự hào nhoáng mà chính là ở sự cần cù, âm thầm vun đắp từng ngày. Càng về sau, hình ảnh lao động của mẹ càng được khắc họa rõ nét hơn qua những câu thơ chân thật mà giàu hình tượng:
Dẫu yêu hoa mận, hoa mơ,
Cái liềm kéo áo, cái bừa núi chân.
Ba cũ rét mấy tuần xuân
Những dụng cụ lao động như liềm, bừa được nhân hóa “kéo áo”, “núi chân” khiến người đọc hình dung rõ rệt cảnh làm lụng nơi đồng ruộng. Mùa xuân là mùa của hội hè, của hy vọng nhưng với người mẹ vẫn là những ngày “rét mấy tuần xuân”, vẫn là chuỗi ngày miệt mài lao động để chăm lo cho mái ấm gia đình. Đọc đến đây, ta càng cảm phục hơn nghị lực và sự chịu thương chịu khó của mẹ. Đó chính là hiện thân của biết bao người phụ nữ Việt Nam tảo tần, kiên cường qua bao thế hệ. Ấn tượng nhất là hình ảnh người mẹ “đem hoa lúa kết thành lời ru”. Hoa lúa không chỉ tượng trưng cho thành quả của lao động mà còn là hình ảnh của sự đủ đầy, no ấm. Mẹ lấy chính thành quả từ mồ hôi công sức mình để ru con, gửi gắm niềm mong ước con được lớn lên trong no ấm, an vui. Đó là cách mẹ thầm lặng truyền cho con bài học đầu đời về lao động, về yêu thương và trân quý những giá trị giản dị nhất.
Bài thơ khép lại bằng hình ảnh đẹp đẽ, mở ra không chỉ một vòng tuần hoàn của thiên nhiên mà còn là vòng tay yêu thương rộng lớn, bền bỉ của mẹ:
Hình ảnh những bông hoa thay nhau nở rộ theo từng mùa, như thay lời mẹ nhắc nhở, vỗ về con suốt bốn mùa xuân hạ thu đông. “Hoa đồng cỏ nội” là những loài hoa mộc mạc, dân dã cũng chính là tình mẹ dịu dàng, bao dung, lúc nào cũng dang rộng vòng tay đón con trở về. Nhờ đó, kết thúc bài thơ không khép lại mà như mở ra một khoảng không gian khoáng đạt, một dòng chảy yêu thương bất tận, nơi tình mẫu tử hòa cùng nhịp thở của đất trời, của đời sống quê hương.
“Nghệ thuật trong bài thơ không phải là sự phô trương cầu kỳ, mà là nét đẹp mộc mạc, chân thành, đậm chất dân gian, khiến thơ đi sâu vào hồn người.” Nhà thơ Ngô Văn Phú đã sử dụng thể lục bát để đưa lời thơ gần với lời ru dân gian, khiến giọng điệu thêm ngọt ngào, tha thiết. Các biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ được vận dụng khéo léo, làm cho hình ảnh hoa cỏ, dụng cụ đồng áng trở nên sinh động, hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa. Đặc biệt, việc dùng những hình ảnh gần gũi với đồng quê miền Bắc như “hoa mận, hoa mơ, hoa lúa” càng làm cho bài thơ đậm đà hương vị dân gian, gợi nhớ về cội nguồn, quê mẹ.
Bài thơ Ru hoa không chỉ là khúc hát ru con, mà còn là khúc hát về cuộc đời mẹ, về bao vất vả, nhọc nhằn, về tình thương vô hạn mà mẹ dành cho con. Bài thơ khép lại, để lại trong lòng người đọc một dư âm lắng đọng về tình mẫu tử thiêng liêng, để ta càng thêm trân trọng, yêu quý những người mẹ của mình, những bông hoa đẹp nhất giữa cuộc đời.
