Mối quan hệ giữa Truyền kì mạn lục và văn học dân gian
Bài văn mẫu Mối quan hệ giữa Truyền kì mạn lục và văn học dân gian
Dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, nếu nhìn từ xa, giống như một con sông lớn được nuôi dưỡng bởi vô vàn mạch ngầm dân gian. Trong dòng chảy ấy, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ hiện lên như một khúc quanh đặc biệt: vừa mang vẻ uyên bác của văn chương bác học, vừa thấm đẫm hơi thở quen thuộc của truyện kể dân gian. Giữa văn học thành văn và văn học truyền miệng không hề tồn tại một ranh giới khép kín; ngược lại, chúng đối thoại, thẩm thấu và nâng đỡ nhau, tạo nên những tác phẩm vừa sâu sắc về tư tưởng, vừa giàu sức lay động đối với tâm thức cộng đồng. Mối quan hệ giữa Truyền kì mạn lục và văn học dân gian vì thế không chỉ là mối quan hệ vay mượn chất liệu, mà là sự cộng sinh bền bỉ giữa truyền thống và sáng tạo cá nhân, giữa trí nhớ tập thể và dấu ấn riêng của nhà văn.
Trước hết, cần thấy rằng văn học dân gian chính là chiếc nôi tinh thần nuôi dưỡng thể loại truyền kì. Những truyện kể dân gian Việt Nam – từ thần thoại, truyền thuyết, cổ tích đến truyện cười, truyện ngụ ngôn – đã tích lũy qua nhiều thế kỉ một kho motif, cốt truyện, hình tượng và quan niệm thẩm mĩ quen thuộc. Thế giới dân gian ấy là nơi con người sống cùng thần linh, ma quỷ; nơi giấc mộng có thể mở ra cánh cửa dẫn sang một cõi khác; nơi thiện – ác luôn được cân đo bằng quy luật nhân quả giản dị mà nghiêm khắc. Truyền kì mạn lục, với đúng nghĩa “ghi chép những chuyện kì lạ được truyền tụng”, đã tiếp nhận trực tiếp tinh thần ấy. Không ít câu chuyện trong tập truyện của Nguyễn Dữ mang dáng dấp rõ ràng của truyện cổ dân gian, như thể chỉ cần khẽ gạt lớp văn chương chữ Hán, ta sẽ thấy thấp thoáng phía dưới là những câu chuyện từng được kể bên bếp lửa làng quê.
Tiêu biểu nhất là “Chuyện người con gái Nam Xương”, vốn bắt nguồn từ truyện dân gian Vợ chàng Trương. Cốt truyện cơ bản – người phụ nữ thủy chung bị nghi oan, phải tìm đến cái chết để minh chứng cho phẩm hạnh – là một mô hình quen thuộc của cổ tích và truyền thuyết Việt Nam. Ở tầng sâu, đó là bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phụ quyền, một bi kịch đã được dân gian cảm nhận từ lâu bằng trực giác đạo đức. Nguyễn Dữ tiếp nhận cốt truyện ấy, nhưng không dừng lại ở việc kể lại. Ông mở rộng không gian truyện xuống thủy cung, để Vũ Nương được Linh Phi cứu vớt, được sống trong một thế giới khác – nơi công lí dường như hiện hữu rõ ràng hơn cõi trần. Chi tiết Vũ Nương hiện về trên sông Hoàng Giang trong làn sương khói, “ngồi trên kiệu hoa, theo sau có hơn năm mươi chiếc xe, võng, lọng, cờ tán” vừa mang vẻ huyền ảo dân gian, vừa cho thấy sự gia công nghệ thuật của nhà văn. Ở đây, văn học dân gian cung cấp cái khung đạo lí và xúc cảm, còn Nguyễn Dữ thổi vào đó chiều sâu triết lí và ý thức cá nhân của người trí thức trung đại.
Không chỉ cổ tích, truyền thuyết dân gian cũng là một nguồn mạch quan trọng của Truyền kì mạn lục. Nhiều nhân vật trong tập truyện là những con người có thật hoặc bán huyền thoại, từng được nhân dân thờ phụng. “Tản Viên từ phán sự lục” kể về Ngô Tử Văn – một kẻ sĩ cương trực, dám đốt đền tà để trừ hại cho dân. Hình tượng người trí thức chính trực này gợi nhớ đến những anh hùng truyền thuyết dám đối đầu với thế lực siêu nhiên vì lẽ phải. Cuộc đối chất của Tử Văn với hồn ma Bách hộ họ Thôi trước Diêm Vương không chỉ là một tình tiết kì ảo, mà còn là sự tiếp nối trực tiếp quan niệm dân gian về công lí: ở đâu đó, dù là cõi âm, vẫn tồn tại một tòa án tối cao phân xử đúng – sai. Nguyễn Dữ kế thừa niềm tin ấy, đồng thời gửi gắm khát vọng công bằng của người trí thức sống trong thời đại rối ren.

Mối quan hệ giữa Truyền kì mạn lục và văn học dân gian còn thể hiện rõ ở cách tổ chức cốt truyện và kết cấu. Phần lớn các truyện trong tập đều vận hành theo mô hình quen thuộc: mở đầu giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh, tiếp đến là biến cố gây xung đột, cuối cùng là sự giải quyết mang tính phán xét đạo đức. Đây chính là mô hình phổ biến của truyện kể dân gian. Tuy nhiên, Nguyễn Dữ không sao chép một cách máy móc. Ông làm cho kết cấu ấy trở nên linh hoạt hơn bằng cách đan xen lời bình, đối thoại dài, và những chi tiết mang tính triết luận. Trong “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, sau khi Ngô Tử Văn thắng kiện, tác giả không khép lại câu chuyện ngay, mà còn thêm lời bình nhấn mạnh ý nghĩa của hành động chính nghĩa. Chính những lời bình ấy đã nâng câu chuyện từ mức độ “kể lại một việc lạ” lên thành một thông điệp đạo đức mang tính khái quát.
Một phương diện khác cho thấy sự gắn bó sâu sắc giữa Truyền kì mạn lục và văn học dân gian là hệ thống motif. Các motif quen thuộc như sinh nở kì lạ, báo mộng, lạc vào thế giới khác, kì ngộ giữa người và thần – tiên – ma quỷ, hóa thân, thưởng – phạt theo luật nhân quả… xuất hiện dày đặc trong tập truyện. Chẳng hạn, motif báo mộng – vốn rất phổ biến trong truyền thuyết dân gian – được Nguyễn Dữ sử dụng nhiều lần để mở ra hoặc khép lại số phận nhân vật. Trong “Đào Thị nghiệp oan kí”, giấc mộng báo trước tai họa vừa mang màu sắc huyền bí, vừa phản ánh nỗi bất an thường trực của con người trước số phận. Motif lạc vào cõi khác trong “Từ Thức tiên hôn lục” cũng gợi nhớ đến những truyện dân gian như Sự tích động Từ Thức, nơi con người bước qua ranh giới thực – ảo để trải nghiệm một thế giới lí tưởng, rồi lại đau đáu nhớ về cõi trần. Nguyễn Dữ kế thừa motif ấy, nhưng đặt vào đó nỗi hoài nghi của người trí thức: cõi tiên dù đẹp đến đâu cũng không thể xóa đi sợi dây ràng buộc với nhân gian.
Đặc biệt, quan niệm nhân – quả của văn học dân gian được Nguyễn Dữ tiếp nhận và phát triển thành một hệ thống tư tưởng nhất quán. Trong dân gian, quy luật “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” thường được thể hiện một cách trực tiếp và đơn giản. Truyền kì mạn lục vẫn giữ tinh thần ấy, nhưng làm cho nó trở nên phức tạp hơn. Không phải lúc nào người thiện cũng được hạnh phúc trọn vẹn, và không phải mọi kẻ ác đều bị trừng phạt ngay trong cõi trần. Bi kịch của Vũ Nương, của Nhị Khanh, hay những nhân vật nữ tài sắc khác cho thấy công lí trần gian nhiều khi bất lực. Chỉ khi mở rộng không gian sang cõi âm, cõi tiên, cán cân công lí mới được tái lập. Chính ở điểm này, ta thấy Nguyễn Dữ vừa kế thừa niềm tin dân gian, vừa bộc lộ nỗi day dứt của cá nhân trước thực tại xã hội bất công.
Mối quan hệ ấy còn thể hiện rõ trong cách xây dựng nhân vật. Nhân vật trong Truyền kì mạn lục thường mang tính cách khá điển hình, giống với nhân vật dân gian: người phụ nữ tiết hạnh, người trí thức chính trực, kẻ gian tà tham lam, thế lực yêu ma đội lốt thần thánh. Tuy nhiên, Nguyễn Dữ không dừng ở việc khắc họa kiểu nhân vật. Ông đào sâu đời sống nội tâm, đặc biệt là nỗi cô đơn, u uất của con người trước thời cuộc. Trong “Từ Thức tiên hôn lục”, Từ Thức không chỉ là chàng trai gặp tiên nữ – một mô hình quen thuộc – mà còn là kẻ lạc lõng giữa hai thế giới, không thuộc trọn vẹn về đâu. Cảm giác ấy là cảm giác rất “con người”, vượt ra ngoài tính chất giản đơn của truyện dân gian, cho thấy dấu ấn cá nhân của nhà văn.
Ngôn ngữ trong Truyền kì mạn lục cũng là một điểm giao thoa thú vị giữa bác học và dân gian. Dù viết bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ vẫn đưa vào tác phẩm nhiều hình ảnh, cách ví von gần với khẩu ngữ dân gian. Đặc biệt, những đoạn thơ xen kẽ trong truyện thường mang âm hưởng ca dao, thể hiện tâm trạng nhân vật theo lối trữ tình quen thuộc của văn học truyền miệng. Nỗi nhớ quê hương của Từ Thức được diễn đạt bằng những câu thơ gợi hình ảnh “mây vàng nước biếc”, vừa mang vẻ cổ điển, vừa gợi nỗi buồn mênh mang rất gần với tâm thức dân gian.
Từ tất cả những phương diện trên, có thể thấy mối quan hệ giữa Truyền kì mạn lục và văn học dân gian không phải là quan hệ phụ thuộc một chiều. Văn học dân gian cung cấp chất liệu, cảm hứng, hệ giá trị đạo đức; còn Nguyễn Dữ, với tư cách một nhà văn bác học, đã chọn lọc, gia công, tái cấu trúc những yếu tố ấy để tạo nên một tác phẩm có chiều sâu tư tưởng và giá trị nghệ thuật bền vững. Nếu văn học dân gian là ký ức tập thể của cộng đồng, thì Truyền kì mạn lục chính là sự thức tỉnh của ký ức ấy trong ý thức cá nhân của một trí thức trung đại.
Chính vì vậy, Truyền kì mạn lục không chỉ là “cầu nối” giữa văn học dân gian và văn học viết, mà còn là minh chứng sinh động cho sức sống lâu bền của văn hóa dân gian trong tiến trình văn học dân tộc. Những câu chuyện tưởng chừng kì ảo ấy, thực chất, là tấm gương phản chiếu những ước mơ, nỗi đau và khát vọng công lí của con người Việt Nam qua nhiều thế kỉ. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân gian và sáng tạo cá nhân, Nguyễn Dữ đã tạo nên một tác phẩm vừa mang vẻ đẹp cổ kính, vừa có sức vang vọng lâu dài trong tâm thức người đọc. Và chính ở điểm giao thoa ấy, Truyền kì mạn lục trở thành một trong những đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam – nơi tiếng nói của nhân dân và tiếng nói của nhà văn hòa làm một, ngân lên thành bản hợp xướng sâu lắng về con người và cuộc đời.
