Phân tích bài thơ Về thăm mẹ của nhà thơ Trương Nam Khương

5/5 - (1 bình chọn)

Đề bài: Viết bài văn phân tích bài thơ Về thăm mẹ của nhà thơ Trương Nam Khương:

VỀ THĂM MẸ!

Con về thăm mẹ chiều đông

Bếp chưa lên khỏi mẹ không có nhà

Mình con thơ thẩn vào ra

Trời đang yên vậy bỗng và mưa rơi

Chum tương mẹ đã đậy rồi

Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa

Áo tơi qua buổi cày bừa

Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm

Đàn gà mới nở vàng ươm

Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành

Bất ngờ rụng ở trên cành

Quả na cuối vụ mẹ dành phần con

Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn

Rung rung từ chuyện giản đơn thường ngày

(Trương Nam Khương – Trích từ “Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt” – NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

Dàn ý Phân tích bài thơ Về thăm mẹ của nhà thơ Trương Nam Khương

I. Mở bài

  • Giới thiệu khái quát tác giả Đinh Nam Khương (1949 – 2018): Là cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam thời chống Mỹ cứu nước. Thơ ông thấm đượm tinh thần nhân văn, giàu chất dân tộc, thiết tha yêu thương.

  • Giới thiệu bài thơ Về thăm mẹ:

    • Lời người con bộc lộ suy nghĩ, tình cảm khi trở về thăm mẹ.

    • Qua những hình ảnh bình dị, quen thuộc, bài thơ làm nổi bật tình yêu thương sâu nặng và sự thấu hiểu công lao nhọc nhằn của người mẹ.

II. Thân bài

  1. Phân tích nội dung, chủ đề của bài thơ

    a. Tình cảm, cảm xúc của người con khi về thăm mẹ

    • Người con trở về thăm mẹ trong chiều đông lạnh giá, không gian vắng lặng, mẹ lại không có nhà, làm dấy lên nỗi nhớ thương, trống trải.

    • Dáng hình người con “thơ thẩn vào ra”, “nghẹn ngào”, “rưng rưng” thể hiện rõ tâm trạng xúc động, bâng khuâng.

    • Cảnh “trời đang yên vậy bỗng òa mưa rơi” có thể hiểu như cảm xúc của chính người con đang òa vỡ thành tiếng khóc.

    b. Hình ảnh ngôi nhà mẹ gắn bó với hồi ức và tình thương

    • Ngôi nhà hiện lên đơn sơ, mộc mạc qua những chi tiết cụ thể: chum tương đã đậy, cái áo tơi ngắn ngủn, cái nơm hỏng vành, đàn gà ra vào quanh sân…

    • Mọi thứ đều gợi sự chắt chiu, tần tảo, dành dụm của người mẹ, thấm đượm bóng dáng người mẹ tảo tần, lam lũ.

    c. Hình ảnh người mẹ hiền hậu, lam lũ mà giàu đức hi sinh

    • Mẹ gắn bó với gian bếp, bữa cơm giản dị: “Bếp chưa lên khói, mẹ không có nhà”, chỉ một chi tiết nhỏ đã gợi lên hơi ấm gia đình gắn với bàn tay mẹ.

    • “Trái na cuối vụ mẹ dành phần con” là chi tiết đắt giá: dù chỉ là một quả na cuối mùa, nhưng nói lên tất cả tình thương và đợi chờ của mẹ, sẵn sàng dành cho con điều tốt đẹp nhất.

    d. Tình yêu thương sâu sắc của người con dành cho mẹ

    • Người con thấu hiểu những vất vả, nhọc nhằn của mẹ qua từng đồ vật, góc nhà.

    • Nỗi xúc động dâng trào khiến người con “nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn…”, không nói hết thành lời, để lại dư âm lặng lẽ, day dứt.

    => Chủ đề bài thơ: Ca ngợi tình mẫu tử sâu nặng, sự hi sinh tần tảo của người mẹ Việt Nam; đồng thời thể hiện tình cảm yêu thương, trân trọng, biết ơn của người con dành cho mẹ.

  2. Đặc sắc về nghệ thuật

    • Sử dụng thể thơ lục bát truyền thống, nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng phù hợp diễn tả tình cảm gia đình.

    • Hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi (chum tương, áo tơi, cái nơm, trái na…) mà mang tính khái quát, biểu tượng cho sự chắt chiu, tảo tần.

    • Dùng nhiều từ láy gợi cảm: “thơ thẩn”, “nghẹn ngào”, “rưng rưng”, cùng biện pháp liệt kê, ẩn dụ, tạo sức gợi hình, gợi cảm xúc mạnh mẽ.

    • Nhan đề giản dị, thân thương, gợi mở một không gian tình cảm gia đình.

III. Kết bài

  • Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

    • Bài thơ ngắn gọn mà sâu sắc, thấm đượm tình mẹ con, khắc họa chân thực, cảm động hình ảnh người mẹ Việt Nam truyền thống.

  • Nêu cảm nghĩ của bản thân:

    • Gợi nhắc mỗi chúng ta biết trân trọng, yêu thương mẹ, chăm sóc mẹ nhiều hơn.

    • Để lòng luôn hướng về mái nhà xưa, nơi có bàn tay mẹ đã chắt chiu dựng xây, vun đắp suốt đời.

Phân tích bài thơ Về thăm mẹ của nhà thơ Trương Nam Khương

Bài văn mẫu Phân tích bài thơ Về thăm mẹ của nhà thơ Trương Nam Khương

Trong kho tàng thi ca Việt Nam, tình mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận, để lại những áng thơ đằm thắm, giàu sức lay động lòng người. Đinh Nam Khương, cây bút xuất sắc của nền văn học thời chống Mỹ cứu nước, đã để lại dấu ấn sâu đậm qua nhiều tác phẩm thấm đượm tình người, giàu chất dân tộc. Bài thơ Về thăm mẹ của ông là một minh chứng tiêu biểu. Với thể thơ lục bát truyền thống, giọng điệu thiết tha, hình ảnh mộc mạc mà giàu ý nghĩa, bài thơ đã khắc họa một cách cảm động hình ảnh người mẹ nông thôn Việt Nam tảo tần, hy sinh, đồng thời thể hiện tấm lòng biết ơn, yêu thương sâu sắc của người con.

Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã khẽ mở cánh cửa dẫn người đọc bước vào khung cảnh một buổi chiều đông vắng vẻ, gợi lên bao nỗi buồn, niềm nhớ thương và khao khát được sum họp quây quần bên mẹ: 

“Con về thăm mẹ chiều đông

Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà

Mình con thơ thẩn vào ra

Trời đang yên vậy bỗng òa mưa rơi”

“Chiều đông” không chỉ là thời điểm cụ thể mà còn mang ý nghĩa gợi tả tâm trạng, gợi cái se lạnh, buồn hiu hắt, dễ khiến lòng người xao xuyến. Người con trở về quê thăm mẹ, mong tìm lại hơi ấm gia đình, nhưng mẹ lại không có nhà, bếp cũng chưa nhóm lửa. “Bếp” vốn là hình ảnh gắn bó thân thuộc với mẹ, nơi mẹ nhóm ngọn lửa yêu thương sưởi ấm mái nhà. Giờ bếp lạnh tanh, càng làm nổi rõ sự thiếu vắng mẹ. Câu thơ “Mình con thơ thẩn vào ra” sử dụng từ láy “thơ thẩn” thật tinh tế, diễn tả bước chân bâng khuâng, tâm hồn trống trải của người con. Để rồi, cảm xúc dồn nén bỗng vỡ òa qua hình ảnh đa nghĩa: “Trời đang yên vậy bỗng òa mưa rơi”. Đó không chỉ là cơn mưa bất chợt mà còn là nước mắt, là niềm xúc động nghẹn ngào trào dâng của người con trước sự vắng lặng, thiếu bóng dáng mẹ hiền.

Đứng giữa ngôi nhà xưa, người con bỗng thấy mọi vật đều in hằn dấu vết tảo tần của mẹ:

“Chum tương mẹ đã đậy rồi

Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa

Áo tơi qua buổi cày bừa

Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm

Đàn gà mới nở vàng ươm

Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành”

Chỉ vài hình ảnh bình dị như chum tương, nón mê, áo tơi, cái nơm, đàn gà… mà nhà thơ đã vẽ nên cả một bức tranh đời sống nông thôn đầm ấm, quen thuộc. Những đồ vật ấy dẫu cũ kỹ, xấu xí, thậm chí đã hỏng, song lại đậm hơi thở cần cù, tiết kiệm, lam lũ của mẹ. “Chum tương” mẹ đã chắt chiu cất giữ, “nón mê” sờn rách, chiếc “áo tơi” đã ngắn củn qua bao mùa mưa nắng đồng sâu, nay chỉ còn khoác hờ trên hình nộm rơm. Tất cả đều gợi lên một người mẹ chịu thương chịu khó, hy sinh cả đời để lo cho con khôn lớn. Đặc biệt, hình ảnh “đàn gà mới nở vàng ươm vào ra quanh một cái nơm hỏng vành” vừa gợi vẻ đẹp bình dị của cảnh quê, vừa như một ẩn dụ cho những đứa con của mẹ từng ngày lớn lên giữa bao nhọc nhằn, chắt bóp. Đọc đến đây, ta thấy rõ tài nghệ của Đinh Nam Khương khi sử dụng biện pháp liệt kê, nhân hóa, ẩn dụ cùng những từ ngữ mộc mạc mà thấm thía, khiến mọi cảnh vật như thấm đượm tình mẹ.

Cả bài thơ như được nâng dần lên rồi lặng đi trong cao trào cảm xúc ở hai câu lục bát cuối. Những câu thơ mộc mạc mà lay động tận đáy lòng người:

“Bất ngờ rụng ở trên cành

Trái na cuối vụ mẹ dành phần con”

Chỉ một trái na nhỏ nhoi mà nói lên cả tấm lòng bao la của mẹ. Dù trái đã cuối vụ, mẹ vẫn không nỡ ăn, cứ để dành, chờ con về. Chi tiết ấy bình dị mà khiến người đọc nghẹn ngào, bởi tình mẹ thương con bao giờ cũng sâu nặng, luôn nghĩ cho con, nhường con điều tốt đẹp, dù bản thân có vất vả, thiệt thòi đến mấy.

Chính bởi đã thấu hiểu tận cùng những hy sinh âm thầm ấy mà người con không khỏi xúc động đến nghẹn ngào, lời nói như chực vỡ ra thành nước mắt:

“Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn…

Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày”

Dấu ba chấm cuối câu “Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn…” mở ra một khoảng lặng mênh mang, cho thấy bao điều muốn nói mà chẳng thể nói thành lời. Chỉ biết “rưng rưng” vì xúc động trước những hi sinh âm thầm mẹ đã dành cả đời cho con. Người mẹ ấy là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh, tần tảo nuôi con, gìn giữ mái ấm gia đình.

Mỗi tác phẩm văn học không chỉ là một khám phá mới về nội dung, mà còn là một sáng tạo riêng về nghệ thuật, mở ra những miền rung cảm độc đáo trong tâm hồn người đọc. Về phương diện nghệ thuật, bài thơ để lại dấu ấn sâu đậm nhờ thể thơ lục bát mượt mà, ngọt ngào, thấm đẫm âm hưởng dân tộc, dễ dàng đi vào lòng người. Hình ảnh thơ tuy hết sức giản dị, mộc mạc mà lại giàu tính biểu tượng, khơi gợi cả một miền ký ức yêu thương. Đặc biệt, tác giả đã tinh tế vận dụng những biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, liệt kê cùng các từ láy giàu sắc thái biểu cảm, làm cho từng câu chữ trở nên lắng đọng, đượm tình gia đình, khiến lòng người đọc không khỏi bùi ngùi, xao xuyến.

Để rồi khi khép lại trang thơ, dư âm về hình bóng người mẹ tảo tần, cùng tình thương yêu thầm lặng cứ quấn quýt trong tâm hồn, nhắc nhở ta phải biết trân trọng hơn mái ấm gia đình, yêu thương, hiếu kính với mẹ cha. Bởi đôi khi, những điều bình dị nhất lại chính là kho báu vô giá nuôi dưỡng cả đời người, và tình mẹ bao la chính là suối nguồn không bao giờ cạn trong trái tim mỗi chúng ta.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online