Đề bài: Anh/Chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) so sánh cái tôi trữ tình Xuân Diệu và Chế Lan Viên qua hai đoạn thơ trong hai bài tho “Tương tư chiều” (Xuân Diệu) và “Chùm nhỏ thơ yêu” (Chế Lan Viên).
Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm.
Em! xích lại! và đưa tay anh nắm!
(Tương tư chiều- Xuân Diệu)
Anh cách em như đất liên xa cách bể
Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em
Em thân thuộc sao thành xa lạ thế
Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm.
Chùm nhỏ thơ yêu (Chế Lan Viên)
Dàn ý So sánh 2 bài thơ Tương tư chiều (Xuân Diệu) và Chùm nhỏ thơ yêu (Chế Lan Viên)
1. Mở bài:
– Giới thiệu hai tác phẩm được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá.
Gợi ý: Tình yêu vốn là đề tài muôn thủa của thơ ca và mỗi người khi đến với tình yêu đều có những cảm nhận và trải nghiệm thú vị. Đến với hai bài thơ “Tương tư chiều” (Xuân Diệu) và “Chùm nhỏ thơ yêu” (Chế Lan Viên) ta bắt gặp cái tôi trữ tình Xuân Diệu và Chế Lan Viên có sự tương đồng và khác biết khi thể hiện nỗi nhớ trong tình yêu.
2. Thân bài:
Khái quát chung: Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,…
a. Luận điểm 1: Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc, độc đáo của cái tôi trữ tình Xuân Diệu trong đoạn thơ.
– Nội dung: Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc, độc đáo của cái tôi trữ tình Xuân Diệu trong đoạn thơ:
+ Điểm nhìn: từ góc độ của nhân vật trữ tình là “Anh” để thể hiện sự đau khổ, nhớ nhung, khát khao gặp lại người yêu. Hình ảnh của nỗi nhớ từ trong lòng tràn ra bao trùm cả cảnh vật: hồn hiu quạnh, nhớ tiếng, nhớ hình, nhớ ảnh, đôi môi đang cười, đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm. Đó là hình ảnh diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình
+ Sự phát triển của hình tượng chính
+ Đoạn thơ nỗi nhớ hiện ra như một nỗi day dứt thật sâu đậm và cụ thể “Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh”. Rồi lại “Anh nhớ em, anh nhớ lắm ! Em ơi !… – Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời – Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm”. Bài thơ dừng lại ở đúng chỗ cao trào của xúc cảm và tâm trạng, như một bản đàn đột ngột dừng lại ở những cung bậc cao và đang đi dồn dập, tạo ra một khoảng lặng bất ngờ, để những âm thanh rung động còn ngân vang trong tâm trí người khác.
– Đặc sắc nghệ thuật:
+ Thể thơ: 8 chữ
+ Gieo vần chân
+ Ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh, diễn đạt chính xác các cung bậc cảm xúc nhớ nhung, đau khổ khi bỏ lỡ người mình yêu.
+ Sự phối hợp hài hoà các thanh bằng, trắc
+ Sử dụng thành công các biện pháp nghệ thuật: nhân hoá, điệp từ, điệp cấu trúc.
+ Tả cảnh ngụ tình.

b. Luận điểm 2: Phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ: Phân tích nỗi nhớ của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ “Chùm nhỏ thơ yêu” của Chế Lan Viên
– Nội dung:
+ Tình cảm của nhân vật trữ tình: Yêu thương, nhớ nhung; Suy nghĩ về tình cảm của nhân vật trữ tình: Chân thành, nồng nàn, da diết và cuồng nhiệt.
+ Chùm nhỏ thơ yêu” là một trong những bài thơ tình vô cùng đậm đà và sâu lắng của Chế Lan Viên. Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh so sánh: “Anh cách em như đất liền xa cách bể”. So sánh thật lạ vế thứ nhất: ” Anh cách em” Vế thứ hai: ” Đất liền xa cách bể”. Đất liền luôn ở gần bên bể, nếu đất liền xa cách bể thì là một sự phi lí, nên anh phải xa em cũng là một sự phi lí và chính vì vậy khi anh xa em cảm giác ấy khó chịu đựng đến vô cùng. Thơ Chế Lan Viên khi đọc phải có tư duy tam đoạn luận mới có thể hiểu hết sự sâu sắc.
+ “Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em” “Nửa đêm sâu” , anh không ngủ được nằm” lắng sóng phương em”. Em phương xa va anh đang cố lắng nghe , đang cố hướng về phương em tha thiết đến vô cùng.
+ Hai câu thơ tiếp theo:
“Em thân thuộc sao thành xa lạ thế
Sắp gặp em rồi, sóng lại đẩy xa thêm”
+ Trong những tháng ngày xa nhau, biết bao nhiêu điều anh muốn nói cùng em mà không được nên em đang thân thuộc bỗng lại thành xa lạ. ” Lắng sóng phương em” để mong gặp em dù chỉ trong mơ, vậy mà “sắp gặp em rồi sóng lại đấy xa thêm”. Bao trăn trở trong những ngày xa vắng được nhà thơ thể hiện thật tuỵệt vời. Chúng ta ai cũng đã từng trải qua những ngày cách xa người yêu dấu nên khi đọc những câu thơ này ta thấy như tác giả đang chia sẻ cùng ta.
– Nghệ thuật:
+ Thể thơ tự do
+ Ngôn ngữ thơ giản dị trong sáng
+ Hình ảnh thơ
+ Thể thơ
+ Giọng điệu: Trữ tình sâu lắng, đậm tính triết lí
c. Luận điểm 3: Nêu rõ điểm giống, khác; lí giải và nêu ý nghĩa
– Điểm tương đồng
+ Nội dung:
++ Cả hai đoạn thơ đều tập trung thể hiện nỗi nhớ của một tình yêu tha thiết sâu đậm của hai nhà thơ.
++ Cả hai đoạn thơ đều trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ của người con trai trong tình yêu nên rất mạnh mẽ mãnh liệt.
++ Nội dung cảm xúc: Cả hai đoạn thơ đều viết về nỗi nhớ, một trạng thái cảm xúc đó là nỗi nhớ trong tình yêu say đắm cuồng nhiệt của tuổi trẻ.
+ Nghệ thuật thể hiện:
++ Hai đoạn thơ, các tác giả đều tập trung khắc họa những cung bậc trạng thái phong phú, đa chiều của nỗi nhớ.
++ Nỗi nhớ triền miên da diết được thể hiện ở mọi cung bậc cảm xúc song có lẽ cảm xúc nhớ mãnh liệt trào dâng trong lòng và khát khao muốn gặp người mình yêu.
++ Hai đoạn thơ đều sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, điệp từ để khéo léo diễn tả nỗi nhớ sâu đậm, giọng điệu da diết, khắc khoải trong nỗi nhớ về người mình yêu nơi phương xa.
++ Giọng thơ trữ tình sâu lắng.
– Điểm khác biệt:
+ Nội dung: Đánh giá nét hấp dẫn riêng của từng đoạn thơ
++ “Tương tư chiều” của Xuân Diệu là nỗi nhớ da diết đến đau đớn của một tình yêu đã từng có những lúc gắn bó gần gũi, nó không mơ màng, vương vấn mà thật sâu đậm và cụ thể. Sự khác biệt không chỉ ở nội dung cảm xúc, mà còn ở cách thể hiện tâm trạng trữ tình. Trong thơ Xuân Diệu, cái quan trọng lại là sự diễn tả xúc cảm, cảm giác mang tính cụ thể, trực tiếp và cá thể.
++ “Chùm nhỏ thơ yêu” đã cho thấy tình yêu trong thơ Chế Lan Viên đằm sâu chất triết lí, ngọt ngào và tha thiết. Đọc thơ tình Chế Lan Viên người đọc luôn cảm nhận được cái tất nhiên, cái cao cả, nhưng cũng vô cùng giản dị của tình cảm trong đời sống tâm linh của con người. Mộc mạc và sâu sắc như cuộc sống- đó là phong cách thơ của Chế lan Viên.
+ Nghệ thuật:
++ Thể thơ: Bài thơ “Tương tư chiều” (Xuân Diệu) thể thơ tám chữ còn bài thơ “Chùm nhỏ thơ yêu” (Chế Lan Viên) thể thơ tự do
++ Câu: Bài thơ “Tương tư chiều” (Xuân Diệu) sử dụng nhiều câu cảm thán, câu đặc biệt, sử dụng phép điệp từ rất độc đáo sáng tạo còn bài thơ “Chùm nhỏ thơ yêu” (Chế Lan Viên) hấp dẫn người đọc bởi ngôn từ dung dị .
++ Giọng điệu: Bài thơ “Tương tư chiều” (Xuân Diệu) giọng điệu mạnh mẽ, mãnh liệt qua điệp khúc “anh nhớ em” còn bài thơ “Chùm nhỏ thơ yêu” (Chế Lan Viên) giọng điệu trữ tình sâu lắng
– Lí giải vì sao có điểm tương đồng, khác biệt:
+ Có những điểm tương đồng là do cả hai tác phẩm đều viết về nỗi nhớ trong tình yêu nhưng mỗi người sẽ có những cảm xúc nhớ nhung khác nhau.
+ Có điểm khác biệt là do yêu cầu bắt buộc của văn học (không cho phép sự lặp lại) và do phong cách riêng của mỗi nhà thơ.
Đánh giá
– Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm.
→ Từ hai nỗi nhớ được thể hiện trong hai đoạn thơ, người đọc không chỉ cảm nhận được nét đặc sắc của hai giọng điệu thơ mà còn thấy được vẻ đẹp tâm hồn con người khi yêu: đằm thắm, dịu dàng, mãnh liệt, cuồng nhiệt, tình nghĩa thủy chung trong tình yêu.
– Khẳng định sự đóng góp của hai tác phẩm, hai tác giả
3. Kết bài:
– Khẳng định ý nghĩa của so sánh, đánh giá hai tác phẩm
– Có thể nêu những ấn tượng của bản thân.
Hai bài thơ tiêu biểu cho những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu và Chế Lan Viên, đồng thời đóng góp cho thơ ca Việt Nam một tiếng thơ về tình yêu thật độc đáo. Hai bài thơ đã khẳng định tên tuổi của hai nhà thơ trong nền văn học nước nhà.
So sánh 2 bài thơ Tương tư chiều (Xuân Diệu) và Chùm nhỏ thơ yêu (Chế Lan Viên) – Mẫu 1
Phong trào Thơ mới đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của cái tôi cá nhân – một cái tôi khao khát yêu thương, khẳng định bản thân và sống hết mình với cảm xúc riêng. Trong dòng chảy ấy, Xuân Diệu và Chế Lan Viên là hai gương mặt tiêu biểu với hai sắc thái trữ tình vừa gặp gỡ vừa khác biệt. Nếu Xuân Diệu đại diện cho cái tôi nồng nhiệt, luôn hướng ra ngoài để tìm kiếm giao cảm, thì Chế Lan Viên lại nghiêng về chiều sâu suy tưởng, lặng lẽ đối thoại với chính mình.
Trong “Tương tư chiều”, Xuân Diệu để nỗi nhớ trào dâng thành những đợt sóng cảm xúc cuộn trào. Điệp khúc “anh nhớ” lặp lại liên tiếp tạo nên nhịp điệu dồn dập, gấp gáp, như nhịp tim của một trái tim đang yêu. Nỗi nhớ không chỉ hướng về hình bóng người thương mà còn là sự tự ý thức về chính mình trong tình yêu. Câu gọi “Em! xích lại! và đưa tay anh nắm!” vang lên tha thiết, thể hiện khát vọng được chạm vào hạnh phúc, được hòa tan cái tôi vào thế giới của yêu đương. Ở Xuân Diệu, tình yêu đồng nghĩa với sự sống; yêu là tận hưởng, là cháy hết mình trong khoảnh khắc hiện tại.
Trái lại, trong “Chùm nhỏ thơ yêu”, Chế Lan Viên diễn tả nỗi nhớ bằng giọng điệu trầm lắng và giàu tính chiêm nghiệm. Hình ảnh “đất liền” và “bể” gợi một mối quan hệ gắn bó mà vẫn chia xa, tạo nên cảm giác cách trở không dễ lấp đầy. Ngay cả khi tưởng như sắp chạm đến hạnh phúc, “sóng lại đẩy xa thêm” – một nghịch lí gợi nỗi buồn nhân sinh. Tình yêu trong thơ ông không bùng cháy mà thấm sâu, chứa đựng suy tư về sự cô đơn và khoảng cách trong đời người.
Cùng viết về yêu và nhớ, nhưng một bên là tiếng gọi sôi nổi của tuổi trẻ, một bên là tiếng lòng trầm tĩnh của tâm hồn nhiều trải nghiệm. Hai cái tôi ấy đã góp phần làm nên diện mạo phong phú của Thơ mới: vừa rạo rực đắm say, vừa sâu lắng suy tư, phản ánh đầy đủ những cung bậc tinh tế của con người hiện đại.
So sánh 2 bài thơ Tương tư chiều (Xuân Diệu) và Chùm nhỏ thơ yêu (Chế Lan Viên) – Mẫu 2
Tình yêu vốn là đề tài muôn thuở của thi ca, và mỗi trái tim khi bước vào yêu đều mang theo những rung động, trải nghiệm riêng. Đến với Tương tư chiều của Xuân Diệu và Chùm nhỏ thơ yêu của Chế Lan Viên, người đọc bắt gặp hai cái tôi trữ tình vừa gặp gỡ vừa khác biệt trong cách thể hiện nỗi nhớ. Việc so sánh hai đoạn thơ không chỉ giúp làm rõ phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà thơ mà còn cho thấy những sắc thái đa dạng của tình yêu trong phong trào Thơ mới.
Tương tư chiều ra đời trong không khí sôi nổi của Thơ mới, tiêu biểu cho hồn thơ yêu đời, yêu sống của Xuân Diệu. Ở đoạn thơ, điểm nhìn trữ tình đặt vào nhân vật “Anh”, qua đó bộc lộ trực tiếp nỗi nhớ đau đáu, khát khao gặp gỡ người yêu. Nỗi nhớ không mơ hồ mà cụ thể, tràn ra bao phủ cả không gian: “Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh”, rồi “Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!”. Điệp từ “anh nhớ” lặp lại dồn dập khiến cảm xúc như sóng trào, mỗi lúc một cao hơn. Hình ảnh “đôi môi đang cười”, “đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm” cho thấy nỗi nhớ hướng vào những chi tiết sống động, đầy cảm giác. Đoạn thơ dừng ở cao trào, giống như bản nhạc đột ngột ngắt giữa lúc âm thanh đang ngân vang, để lại dư âm khắc khoải trong lòng người đọc. Về nghệ thuật, thể thơ tám chữ, vần chân, sự phối hợp hài hòa thanh bằng – trắc cùng các biện pháp điệp từ, điệp cấu trúc, nhân hóa và bút pháp tả cảnh ngụ tình đã diễn tả chính xác cung bậc nhớ nhung, đau đớn của cái tôi đang yêu.
Nếu Xuân Diệu sôi nổi, mãnh liệt thì Chùm nhỏ thơ yêu lại đậm chất suy tưởng. Bài thơ mở đầu bằng so sánh độc đáo: “Anh cách em như đất liền xa cách bể”. Đất liền và bể vốn gần gũi, nên “xa cách” trở thành một nghịch lí, cũng như việc anh phải xa em là điều khó chấp nhận. Hình ảnh “Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em” gợi nỗi nhớ âm thầm mà tha thiết. Hai câu thơ: “Em thân thuộc sao thành xa lạ thế / Sắp gặp em rồi, sóng lại đẩy xa thêm” diễn tả trọn vẹn nghịch lí của yêu thương: càng mong gần lại càng cảm thấy xa. Thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh, giọng điệu trữ tình sâu lắng, giàu tính triết lí đã làm nên sắc thái riêng cho đoạn thơ.
Giữa hai đoạn thơ có nhiều điểm tương đồng: đều trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ của người con trai trong tình yêu; đều khắc họa những cung bậc phong phú của cảm xúc; đều sử dụng điệp từ, so sánh, ẩn dụ với giọng điệu da diết. Tuy nhiên, sự khác biệt cũng rất rõ. Nỗi nhớ trong Tương tư chiều cụ thể, bùng nổ, mang tính cảm giác trực tiếp; còn trong Chùm nhỏ thơ yêu, nỗi nhớ lắng sâu, giàu suy nghiệm. Một bên là thể thơ tám chữ với nhiều câu cảm thán mạnh mẽ; bên kia là thể thơ tự do, giọng điệu trầm tĩnh. Sự tương đồng bắt nguồn từ cùng viết về nỗi nhớ trong tình yêu, còn khác biệt là do phong cách riêng và yêu cầu sáng tạo của văn học không cho phép lặp lại.
Từ hai nỗi nhớ ấy, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn con người khi yêu: khi thì mãnh liệt, cuồng nhiệt; khi thì đằm thắm, suy tư mà thủy chung. Hai bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu và Chế Lan Viên, đồng thời góp vào thi ca Việt Nam những tiếng nói tình yêu độc đáo. So sánh hai tác phẩm không chỉ giúp ta hiểu sâu hơn giá trị riêng của mỗi nhà thơ mà còn thêm trân trọng những rung động tinh tế của trái tim con người trong hành trình đi tìm và gìn giữ yêu thương.
