Đề bài: Phân tích truyện ngắn Mợ Du của Nguyên Hồng
Mợ Du – Nguyên Hồng
– An! An!
Tiếng gọi vừa dứt, một bàn tay nắm chặt cánh tay tôi lôi tôi đi. Tôi mở to mắt nhìn người đàn bà này. Còn tôi, càng nhìn vẻ mặt hốt hoảng của mợ Du tôi càng hồi hộp và nóng lòng chờ một câu nói của mợ ta. Đến đầu phố mợ mới dừng lại, ghé miệng vào tai tôi:
– Thằng em Dũng đâu hở con? Con đi tìm nó cho mợ. Con bảo nhỏ thằng em Dũng chứ! Nếu nó ở trong nhà thì con chờ nó ra ngoài đường rồi hãy gọi.
Đoạn mợ ta đẩy mạnh tôi:
– Mau lên con! Mợ đứng chờ con và em Dũng ở bên đường ông Hào đấy!
Mợ Du! Mợ Du! Một người đàn bà mà hiện giờ tôi còn nhớ từng nét mặt, tiếng nói. Mợ có một gương mặt trắng mát, gò má hơi cao, mắt có quầng thâm và lúc nào cũng ướt át, lờ đờ. Tiếng nói của mợ nhẹ và ấm. Mợ đã là người bạn buôn bán thân nhất của mẹ tôi. Nhưng từ ngày mợ bỏ cậu Du, tôi ít thấy mẹ tôi chuyện trò với mợ, cho đến ngày nghe đâu mợ vào Vinh cùng với một người thợ may tây rồi đẻ con với người ấy.
Mợ Du bỏ chồng! Mợ Du phải bỏ chồng vì bị mẹ chồng và em chồng bắt được quả tang tình tự với anh thợ may trai trẻ, có duyên, làm cho nhà mợ! Tôi đã không hiểu tại sao mợ Du đã có con lớn lại bậy bạ như thế. Và, như những người lớn, tôi đã ghét và khinh mợ mỗi khi nghe nhắc đến mợ với cái tội không thể tha thứ ấy.
Nhưng sau một đêm kia, đối với mợ Du tôi bỗng đổi ra thành lòng thương và mến. Rồi từ đêm ấy trở đi, tôi căm tức vô cùng trước những kẻ bêu riếu mợ hay ra vẻ ghê tởm thằng Dũng con mợ.
Đêm ấy là một đêm trăng và tôi không nhớ về tháng tám hay tháng chín, chỉ nhớ là một đêm trăng sáng lắm. Mợ Du cũng bỗng nhiên hiện ra trước mặt tôi và nắm chắc cánh tay tôi.
– An! An! Con giúp mợ việc này rồi mợ cho một xu nhé.
Tôi chau mày lại nhìn người đàn bà đã vắng mặt ở phố tôi và không biết đi đâu đã sáu bảy tháng nay:
– Tôi chịu thôi! Mợ nhờ đứa nào thì nhờ.
Mợ Du giọng ngọt ngào van lơn:
– Con chịu khó một chút mà! Chóng ngoan! Đây mợ cho con hai hào đây.
Đồng hào đôi sáng loáng dúi vào tay tôi có ngay một hiệu lực rất mạnh. Tôi không còn thấy khó chịu vì sự nhờ vả của mợ, và tôi như không còn nghĩ đến cái tai tiếng không ra gì của mợ khiến mợ trở nên một người chịu đựng sự khinh bỉ và nguyền rủa của cả các gia đình.
Tôi vẫn làm ra bộ khó khăn, nhìn mợ bằng cặp mắt do dự. Mợ Du liền kéo tôi vào một hàng hiên. Mợ nói nhỏ, giọng càng run run:
– Con vào nhà rủ thằng em Dũng ra đường chơi với mợ. Con đừng cho ai biết! Và con rủ nó sang gốc ổi vườn ông Hào đằng đầu phố ấy.
Tuy nhỏ tuổi, nhưng chỉ nghe mợ Du nói ngần ấy câu, tôi nhận thấy ngay tại sao có sự gặp mặt vụng trộm giữa hai mẹ con này, và tôi cảm thấy rõ ràng sự lo lắng và đau khổ của một người đàn bà bị đuổi ra khỏi cửa một gia đình nay lẩn lút trở về để được thăm nom con giây phút.
– ừ con, – tôi đổi tiếng xưng hô – con đi gọi thằng Dũng cho mợ, nhưng nhỡ nó đương đọc sách cho cậu nó nghe trong khi cậu nó hút thuốc phiện thì sao?
Mợ Du chớp chớp mắt rồi lờ đờ nhìn về một cửa hàng đã đóng cửa. Trong bóng tối giữa hàng hiên, cặp mắt mợ Du bỗng long lanh như hai viên ngọc:
– Thì con chịu khó ngồi bên nó rồi thừa cơ bấm nó rồi bảo nhỏ nó ra ngoài.
Tôi liền gật đầu, chạy vút đi.
May quá, tôi vừa tới cửa nhà cậu Du thì thằng Dũng ở trong nhà đâm bổ ra gọi hàng mía. Nó không để tôi nói thêm với nó một nhời, chạy theo tôi ngay và luôn luôn bắt tôi đưa xem đồng hào đôi mới.
Chúng tôi vừa mới đến cổng vườn nhà ông Hào, mợ Du ở một bụi râm bụt lao sầm ra, ôm chặt lấy thằng Dũng vừa nức nở kêu tên Dũng:
– Dũng! Dũng! Dũng con ơi!
Mợ bế xốc Dũng lên, đẩy cánh cổng chạy vào trong cùng vườn. Tôi theo vào. Mợ Du đặt Dũng xuống đất, mợ quỳ hẳn đầu gối, hai tay choàng lấy người Dũng. Vẫn cái giọng nghẹn ngào ấy:
– Dũng! Dũng! Dũng có nhớ mợ không! Bà có đánh Dũng không? Cậu có bênh Dũng không? Dũng có nhớ mợ không? Có thương mợ không?
Dũng không đáp, ngả đầu vào vai mẹ mếu máo:
– Hự! Hự… mợ về nhà với con cơ…
Mợ Du hôn hít vào má, vào trán, vào cằm Dũng rồi khóc nức nở:
– Giời ơi! Giời ơi! Mợ chết mất! Dũng ơi! Dũng ơi!
Ánh trăng vằng vặc đã gội tràn trề xuống hai gương mặt đầm đìa nước mắt áp lên nhau và hai mái tóc ngắn dài trộn lẫn với nhau. Hương hoa cau và hoa lý sáng và ấm đã xao xuyến lên bởi những tiếng khóc dồn dập vỡ lở ở một góc vườn, rì rì tiếng dế.
Tôi dần thấy nghẹn ở cổ. Tôi phải bưng lấy mặt và quay đi chỗ khác: “Mợ ơi! Mợ ơi!”.
Đằng kia Dũng cũng: “Mợ ơi! Mợ ơi!”.
Tiếng khóc của Dũng và cả chính tiếng khóc của tôi càng xé lòng tôi ra.Chợt mợ Du đứng vùng lên, hất mạnh mớ tóc xõa ra đằng sau. Thoáng cái, mắt mợ quắc lên sáng ngời và gương mặt trắng mát của mợ tái hẳn đi. Mợ cắn chặt môi dưới, lắc mạnh đầu luôn mấy cái. ánh trăng càng chảy cuồn cuộn trong những đợt tóc đen ánh trở nên hung dài chấm gót của mợ Dũng.Mắt người mẹ khốn nạn, mắt đứa con đầy đọa và mắt tôi đắm vào nhau không biết trong bao nhiêu phút, yên lặng và tê mê…
Một lúc sau, mợ Dũng dắt Dũng ra ngoài vườn. Tôi chực chạy ra hè trước, mợ vội chạy theo, kéo tôi lại. Mợ, một tay nắm tay Dũng, một tay xoa đầu tôi, giọng khàn khàn và vẫn nghẹn ngào:
– An và em Dũng về nhà nhé. Mấy hôm nữa mợ lại về. Mợ đã dặn ông Hào rồi đấy, An và Dũng muốn thức ăn gì thì ăn.
Nói đoạn, mợ cúi xuống lại hôn hít vào trán, vào má vào cổ, vào gáy Dũng.Toàn thân tôi lại rung chuyển trước sự quyến luyến này.
Nhìn sự chia lìa đau xót của hai mẹ con Dũng, tôi đã có cảm tưởng chính tôi là Dũng, và tôi đã có ý muốn ôm ghì lấy mợ Du, ôm ghì mãi mãi, ôm ghì lấy rồi dù bị chết cũng cam tâm…
Từ đấy trở đi, mỗi lần mợ Du ở Vinh về là tôi đi gọi Dũng. Tôi không còn nhớ rõ là tôi đã gọi Dũng tất cả bao nhiêu lần. Chỉ biết rằng trong một thời gian khá dài – hơn ba năm – lần nào sự gặp gỡ của hai mẹ con Dũng cũng làm tôi sung sướng, và lần nào sự chia lìa của mẹ con Dũng cũng thấm cả nước mắt tôi và làm tôi bùi ngùi trong sự thương tiếc mênh mông như cái bàng bạc của đêm thu đầy trăng.
(Lược một đoạn:… Bẵng đi 17, 18 năm tôi không một lần nào gặp Dũng và người mẹ của Dũng đã một thời kỳ từng tai tiếng. Dũng, tôi gần quên hẳn. Trong một cuộc trò chuyện tình cờ với bà cụ sống cùng khu nhà, tôi nghe kể về một người đàn bà nghèo khổ, không chồng con, thân thích vừa mới chết. Bà cụ đưa tôi xem mấy tờ giấy và một tấm hình. Tất cả, dưới đều kí tên Dũng, từ những nét ngây ngô trở nên những nét sắc trơn. Tôi đã suýt kêu lên nhưng cổ họng nghẹn hẳn. Tôi giơ hẳn tấm hình ra ngoài cửa xem.)
Tấm ảnh chụp hai mẹ con kia rõ ràng là mợ Du và thằng Dũng. Người mẹ ấy đôi mắt vẫn sáng, và cái sống mũi dọc dừa, cái cằm thon trong gương mặt vẫn đầy tươi trẻ, tinh anh. Còn thằng nhỏ thì bế nâng lên trước mặt người mẹ, một tay y bịt lấy rốn nó, mặt hơi cúi xuống với nó nhưng mắt vẫn ngước lên như trỏ cái sự vật đằng trước cặp mắt bỡ ngỡ của nó cho nó cười thêm. Dưới tấm ảnh mà tôi không thể nào lầm lẫn được ấy lại còn có thêm dòng chữ này:
– Kỷ niệm ngày con Dũng của mợ lên hai nhưng mới được tám tháng.
Và ở một góc có hai dòng chữ nhỏ như kim:
– Dũng ơi! Con của mẹ ơi! Biết đến bao giờ mẹ mới được gặp con?!
Mợ Du đã chết rồi?! Người mẹ khốn nạn kia bị người chồng sau tình phụ, hay vì y chết, mợ sa sút và cho mình đã phạm một trọng tội, mợ đành sống lén lút, để khỏi dây dính đến Dũng? Hay mợ đã tìm đến Dũng nhưng không được nhìn nhận? Hay Dũng chết rồi? Hay những giấy má, hình ảnh kia chỉ là của người đàn bà chết bắt được?!
Tôi đã nhiều lúc tự hỏi nhưng chỉ thấy thêm rằng chắc chắn mợ Du đã chết và những cảm tưởng về mợ chỉ càng thấm thía, tê tái trong tâm hồn tôi, thằng bé An xưa kia không còn những dòng nước mắt tràn trề để khóc nữa.
(1939 – 1943)
(Trích Truyện ngắn Mợ Du- Nguyên Hồng)
Dàn ý Phân tích truyện ngắn Mợ Du của Nguyên Hồng
1. Mở bài:
– Giới thiệu khái quát vấn đề cần nghị luận: Truyện ngắn Mợ Du là bản bi ca về tình mẹ, là tiếng nói ngợi ca và bênh vực cho những người phụ nữ nghèo khổ, giàu yêu thương nhưng bị cuộc đời vùi dập.
2. Thân bài:
a. Khái quát về tác giả tác phẩm
– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyên Hồng:
+ Nguyên Hồng (1918–1982) là nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930–1945.
+ Ông được mệnh danh là “nhà văn của những người cùng khổ”, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em – những số phận bị dồn đẩy đến tận cùng bất hạnh.
Giới thiệu truyện ngắn Mợ Du:
+ Đăng lần đầu trên báo Tiểu thuyết Thứ bảy năm 1939.
+ Là truyện ngắn xúc động viết về tình mẫu tử – tình cảm thiêng liêng, nguyên thủy nhất của con người.
b. Phân tích nhân vật mợ Du và tình huống truyện:
-
Số phận bất hạnh của mợ Du:
-
Một người phụ nữ nghèo, bị đẩy vào hoàn cảnh buộc phải rời xa con ruột từ khi con còn rất nhỏ.
-
Tám năm trời lưu lạc, sống với nỗi nhớ con cồn cào, khát khao được gặp lại con.
-
Khi có dịp gặp lại con, thì đau đớn thay, đứa bé không nhận ra mẹ. Mợ Du chỉ có thể lặng lẽ nhìn con từ xa, trái tim thổn thức đến đớn đau.
-
-
Vẻ đẹp tâm hồn của mợ Du:
-
Yêu con đến tuyệt đối, sẵn sàng hi sinh tất cả chỉ để được gặp con.
-
Không oán hận ai, không trách móc số phận, chỉ âm thầm chịu đựng.
-
Hình ảnh mợ Du kiên nhẫn chờ đợi, lặng lẽ khóc, rồi ra đi trong nỗi cô đơn là hình tượng mẫu mực của người mẹ nghèo trong văn học hiện thực.
-
-
Tình huống truyện cảm động, giàu kịch tính:
-
Tình huống mợ Du tìm gặp con, một tình huống bất ngờ, đau xót và cũng là cao trào cảm xúc của truyện.
-
Kết thúc mở, không có tiếng gọi “mẹ ơi”, không có đoàn tụ, chỉ có sự lặng câm thắt ruột càng khiến bi kịch thêm ám ảnh.
-
c. Giá trị Nghệ thuật:
-
Ngôi kể thứ nhất (người kể xưng “tôi”): Là người chứng kiến câu chuyện của mợ Du, giúp câu chuyện thêm chân thực, gần gũi và có chiều sâu cảm xúc. Ngòi bút của người kể chuyện như tan vào cảm xúc nhân vật, tạo ra sự đồng cảm mạnh mẽ nơi người đọc.
-
Giọng văn thấm đẫm tình cảm, đầy trắc ẩn:
-
Lối viết giản dị, đời thường mà giàu cảm xúc.
-
Cách lựa chọn từ ngữ tự nhiên, mộc mạc nhưng biểu đạt được sự dồn nén, nghẹn ngào của nhân vật.
-
-
Nghệ thuật khắc họa nhân vật tinh tế:
-
Nhân vật mợ Du hiện lên sống động qua cử chỉ, hành động, nét mặt (bối rối, lúng túng, nghẹn ngào, cố mỉm cười…).
-
Cách miêu tả không rơi vào bi lụy, mà chân thực, xúc động, khiến người đọc cảm thương hơn là thương hại.
-
3. Kết bài:
-
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện:
-
Mợ Du là truyện ngắn giàu chất nhân văn, khắc họa chân thực số phận người mẹ nghèo và ngợi ca tình mẹ sâu nặng.
-
Nghệ thuật kể chuyện giản dị mà sâu sắc, nhân vật được xây dựng tinh tế, giàu cảm xúc.
-
- Tác phẩm khiến người đọc biết biết ơn và trân trọng hơn những yêu thương thầm lặng của mẹ, và học cách sống nhân ái, bao dung hơn với mọi người quanh mình.

Bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Mợ Du của Nguyên Hồng
Nguyên Hồng là một trong những cây bút lớn của văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Sinh ra trong một gia đình nghèo ở Nam Định, từng trải qua tuổi thơ thiếu thốn, mất mẹ từ nhỏ, ông đã dành trọn đời văn của mình để viết về những số phận nhỏ bé, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, những con người sống bên lề xã hội nhưng giàu tình cảm và nhân cách. Nguyên Hồng được mệnh danh là “nhà văn của những người cùng khổ”, là người luôn nâng niu vẻ đẹp của tình người, dẫu giữa khổ đau và tăm tối. Truyện ngắn Mợ Du là một tác phẩm xúc động, tiêu biểu cho phong cách nhân đạo và lối viết đậm chất cảm xúc của ông. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện, mà là một nỗi đau, một tiếng nói nghẹn ngào về tình mẫu tử, thứ tình cảm thiêng liêng nhất mà con người từng có.
Truyện ngắn Mợ Du viết về một người mẹ tha thiết muốn được gặp lại con sau nhiều năm xa cách, nhưng hoàn cảnh trớ trêu khiến mợ không thể công khai nhận con, chỉ có thể đứng nhìn trong nỗi nhớ thương tột cùng. Nhân vật “tôi” là người kể chuyện đã chứng nhân của những lần gặp gỡ chớp nhoáng giữa hai mẹ con. Qua lời kể của nhân vật này, hình ảnh mợ Du hiện lên như một người mẹ khổ đau, cam chịu, khao khát tình mẫu tử đến cháy bỏng nhưng lại bị vùi dập bởi định kiến xã hội. Cốt truyện tuy đơn giản, không có quá nhiều biến cố lớn, nhưng lại được xây dựng với những chi tiết nhỏ thấm đẫm cảm xúc, làm bật lên bi kịch âm thầm mà sâu sắc của người mẹ nghèo trong xã hội phong kiến.
Mợ Du hiện lên là một người phụ nữ khốn khổ, từng “bỏ nhà đi” vì một lý do không rõ ràng, nhưng có lẽ là vì tình yêu, một tình yêu mà xã hội phong kiến không chấp nhận. Người đàn bà ấy đã bước ra khỏi khuôn khổ của gia đình chồng, của lễ giáo ràng buộc, để rồi bị đẩy vào cảnh sống lưu lạc, biệt ly con ruột, phải lén lút trở về chỉ để nhìn con trong chốc lát. Cái khổ tâm lớn nhất của mợ không phải là nghèo đói hay tủi nhục, mà là nỗi nhớ con đến cồn cào, nỗi khát khao được ôm con, được nghe con gọi một tiếng “mẹ” mà suốt bao năm vẫn chỉ là điều xa vời. Trong truyện, có những khoảnh khắc mợ Du chỉ lặng lẽ nhìn con từ xa, ngập ngừng định bước tới, rồi lại vội vã quay đi. Cái dáng vẻ ấy, cái giằng xé nội tâm ấy đã nói lên biết bao tình cảm thẳm sâu trong lòng người mẹ. Đó là tình yêu không thể cất thành lời, là nỗi đau không ai thấu, là bản nhạc buồn chỉ riêng người mẹ biết.
Bi kịch của mợ Du không dừng lại ở sự chia ly, mà đẩy đến đỉnh điểm trong cái chết âm thầm của mợ. Kết thúc truyện là sự trở về của nhân vật “tôi” trong hiện tại, và hay tin mợ Du đã qua đời. Mợ để lại tấm hình chụp con cùng những dòng thư chất chứa nỗi nhớ thương. Dòng chữ “Dũng ơi! Con của mẹ ơi! Biết đến bao giờ mẹ mới gặp con?” như một tiếng gọi vọng vào hư không, như một dấu chấm hỏi không bao giờ được trả lời. Câu hỏi ấy không chỉ là của riêng mợ Du, mà còn là tiếng lòng của biết bao người mẹ bất hạnh trong xã hội cũ, bị chia cắt khỏi con mình bởi những luật lệ tàn nhẫn và thành kiến cay nghiệt. Bi kịch của mợ là bi kịch không có lối thoát của một tình mẫu tử bị ngăn cấm, bị phủ nhận, bị lãng quên trong sự thờ ơ của người đời.
Thành công của truyện Mợ Du không chỉ đến từ nội dung cảm động mà còn nhờ những phương diện nghệ thuật đặc sắc. Tác giả lựa chọn ngôi kể thứ nhất, để nhân vật “tôi” là một đứa trẻ đã chứng kiến mọi chuyện kể lại bằng những xúc cảm chân thành, mộc mạc. Lối kể này khiến câu chuyện như thật, khiến người đọc cảm tưởng mình cũng đang đứng đó, lặng nhìn người đàn bà khốn khổ ấy khóc trong bóng tối. Ngôn ngữ truyện giản dị, không cầu kỳ, nhưng mỗi câu văn đều thấm đẫm tình cảm và nỗi xót xa. Giọng văn của Nguyên Hồng luôn trầm lắng, giàu chất thơ, chất đời, và đặc biệt là giàu lòng nhân ái. Ông không tô đậm bi kịch bằng những lời than vãn, mà để nỗi đau ngấm dần vào người đọc qua từng chi tiết, từng cái nhìn, từng hành động của nhân vật.
Nguyên Hồng có một tình yêu đặc biệt với người mẹ. Có thể nói, trong mọi tác phẩm của ông, bóng dáng mẹ luôn hiện hữu, khi ấm áp, khi u uẩn, khi bi thương. Bởi ông từng là đứa trẻ mồ côi mẹ, từng lớn lên với nỗi khát khao được ôm mẹ, được nép vào lòng mẹ trong những tháng ngày đói rét. Cái thiếu vắng ấy trở thành động lực thôi thúc ông viết nên những trang văn thấm đẫm tình mẫu tử. Trong Những ngày thơ ấu, hình ảnh người mẹ cũng hiện lên như một miền ký ức không thể phai mờ. Trong Bỉ vỏ, nhân vật Tám Bính là một người phụ nữ khốn khổ cũng được khắc họa như biểu tượng của mẫu tính. Với Mợ Du, Nguyên Hồng tiếp tục nối dài mạch viết ấy như để trả lời cho nỗi đau của chính mình, và cũng để lay động những trái tim đang còn vô cảm.
Truyện kết thúc nhưng dư âm còn mãi. Câu chuyện về một người mẹ khốn khổ, âm thầm yêu con, âm thầm chết đi cùng nỗi nhớ đã để lại trong lòng người đọc một nỗi buồn không nguôi. Mỗi chúng ta, khi đọc xong truyện, không thể không nghĩ đến mẹ mình, người phụ nữ đang hàng ngày hi sinh, lặng lẽ sống vì con mà chưa bao giờ than thở. Câu chuyện của mợ Du như một lời nhắc, một lời gửi gắm: hãy trân trọng mẹ, yêu thương mẹ khi còn có thể. Bởi mẹ luôn là người yêu ta vô điều kiện, luôn ở phía sau, lặng lẽ chở che. Có lẽ, khi khép lại những trang cuối của Mợ Du, trong lòng mỗi người đều vang lên lời thơ của Trần Trung Đạo:
“Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không…”.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
