Đề bài: Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) Phân tích truyện ngắn Bà nội của Nguyễn Trịnh Thảo Đan.
BÀ NỘI
Nguyễn Trịnh Thảo Đan
Bà nội có bàn chân rất kì lạ. Những ngón chân của bà choãi ra như cái chạc gỗ, quanh năm khô quạch nứt nẻ. Thỉnh thoảng về quê, Hà lại nghịch ngợm nắn mấy đầu ngón chân của bà rồi tỉ mỉ quan sát. Những lúc ấy, bà vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa cười phô hàm răng cái còn cái mất, mắng yêu: “Cha bố cô! Chân bà già lội ruộng, lạ lắm hả?” Lạ nhất là quanh năm, dù mùa đông hay mùa hạ, lúc nào bà cũng đi chân đất. Chân bà dầm trong nước mưa tê buốt, chân bà liêu xiêu trên con đường đê trưa hè bỏng rát… Bà nói bà quen rồi, đôi bàn chân này đã đi qua bao nhiêu cay đắng cuộc đời thì chút nắng mưa có sá gì… Từ ngày ông mất, sáng nào bà cũng dậy từ 3 giờ, ngồi cạnh bàn thờ ông rồi rì rầm trò chuyện như thể ông vẫn đang còn sống vậy. Vừa xong giỗ đầu của ông, bố Hà đưa bà lên thành phố vì sợ bà buồn nhớ ông. Hôm bà lên cũng là lần hiếm hoi Hà thấy bà đi hài. Đôi hài thêu hoa rất đẹp khiến Hà cứ khen mãi, khen bà “ăn chơi” thế. Bà cười: “Bác Tâm mua đấy. Bác dặn bà lên thành phố đừng đi chân đất, không người ta cười cho. Nhưng mà bà đi không quen, khó chịu lắm!” Nói rồi, bà tháo luôn đôi hài và cất kĩ vào trong tủ. Ngay sau đó, bà chân đất đi khắp xóm rổn rảng chào hỏi, biếu nhà này ít ngô, biếu nhà kia ít đỗ đen xanh lòng mang từ quê lên. Hàng xóm có người mời bà vào nhà uống chén nước làm quen, có người đứng ngay trước cửa trả lời bà vài câu qua loa rồi vội vàng đi làm, đi chợ. Được hàng xóm mời vào nhà, bà luôn chùi chân ở tấm thảm ngoài cửa thật cẩn thận rồi mới dám vào. Nhưng vết chân của bà vẫn in trên nền gạch bóng loáng. Chủ nhà cười nói tiếp chuyện nhưng đôi mắt thì cứ dán vào đôi chân bà – đôi bàn chân xấu xí với những kẽ nứt đen sì. Đến chiều, bà chỉ chia quà được cho mấy nhà, các nhà khác đều đóng cửa im ỉm. Bà sốt ruột vì ngô mới bẻ sáng nay, phải luộc luôn thì mới ngon ngọt, để qua đêm ăn vừa khô vừa nhạt, lại vô duyên như gái ngủ trưa. Đứng trước cửa nhà hàng xóm, bà giục Hà ấn chuông nhưng mãi không có ai ra mở cửa dù Hà biết thừa là có người ở nhà. Thế rồi Hà lầm lì kéo tay bà về, còn bà thì cứ mãi lấn cấn với mấy túi ngô chưa kịp biếu. Bọn trẻ con trong xóm mỗi lần nhìn thấy bà là lại đứng tụm lại một góc để chỉ trỏ, thầm thì, rồi có lúc cười ré lên. Em My của Hà hậm hực nói: “Chúng nó chê bà nhà quê, chân giống như chân phù thủy…” Hà vội che miệng My không cho em nói nữa, sợ bà nghe được sẽ buồn. Chắc bà không nghe nên thấy đứa trẻ nào cũng gọi vào, lúc thì cho cái kẹo, lúc lại cho quả ổi. Trẻ con đứa nào cũng thích quà nên được mấy ngày là chúng đã thân thiết bám lấy bà. Hôm đó, bà nấu nồi chè đỗ đen to tướng và chia cho mỗi đứa một cốc, cả bọn sung sướng ăn xì xụp. Hà và My mọi khi chẳng thèm ăn chè mẹ nấu mà hôm đó cũng chén sạch mỗi đứa một bát đầy. Vừa ăn vừa nghe bà kể chuyện ở quê ngày bà còn nhỏ vui ơi là vui, đứa nào đứa nấy cười lăn cười bò, răng thì dính toàn đỗ đen…
Phân tích truyện ngắn Bà nội của Nguyễn Trịnh Thảo Đan – Mẫu 1
Truyện ngắn “Bà nội” của Nguyễn Trịnh Thảo Đan khép lại, nhưng trong em vẫn còn vẹn nguyên một cảm giác lặng lẽ, ấm áp xen lẫn xót xa. Đó không chỉ là câu chuyện về một người bà từ miền quê lên sống giữa phố thị, mà còn là câu chuyện về những giá trị giản dị đang dần bị lãng quên trong nhịp sống hiện đại. Nhân vật bà nội hiện lên mộc mạc, chân thành và giàu yêu thương, khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào khi nghĩ đến những hi sinh âm thầm của người bà trong mỗi gia đình.
Hình ảnh gây ám ảnh nhất trong truyện chính là đôi bàn chân trần của bà – thô ráp, nứt nẻ, in hằn dấu vết của cả một đời lam lũ. Đó không chỉ là chi tiết tả thực mà còn là dấu ấn của năm tháng, của những buổi sớm lội bùn ra ruộng, của những ngày dầm mưa dãi nắng để nuôi con, nuôi cháu. Đôi chân ấy mang theo cả quá khứ nghèo khó, cả nỗi vất vả mà bà chưa từng một lần than thở. Giữa phố xá sạch sẽ, những đôi giày bóng loáng, đôi chân trần của bà bỗng trở nên lạc lõng, khiến người ta nhìn bà bằng ánh mắt tò mò, dè dặt, thậm chí là lạnh nhạt.
Bà nội sống bằng những thói quen rất đỗi quen thuộc của làng quê. Bà quen dậy sớm, quen ngồi trò chuyện với người chồng đã khuất như thể ông vẫn còn đâu đó trong căn nhà nhỏ. Bà quen mang những thức quà quê giản dị biếu hàng xóm, quen yêu thương lũ trẻ bằng sự ân cần mộc mạc. Thế nhưng, giữa thành phố, những điều tưởng chừng rất đỗi bình thường ấy lại trở nên xa lạ. Đôi hài thêu hoa không thể làm bà thấy thoải mái, bởi nó không chỉ vướng víu đôi chân mà còn khiến bà như mất đi chính mình. Sự “không quen” ấy gợi lên một nỗi buồn thầm lặng về khoảng cách giữa con người với con người trong xã hội hiện đại.
Nhân vật Hà là chiếc cầu nối cảm xúc, giúp người đọc nhìn bà nội bằng ánh mắt yêu thương và thấu hiểu. Qua Hà, ta thấy được nỗi xót xa khi bà bị hàng xóm thờ ơ, khi lũ trẻ ban đầu còn chê cười, xa lánh. Nhưng cũng qua Hà, ta chứng kiến sức mạnh bền bỉ của lòng nhân hậu. Không cần lời nói lớn lao, bà nội chinh phục mọi người bằng những cốc chè đỗ đen ngọt dịu, bằng những câu chuyện quê mộc mạc và bằng tấm lòng bao dung không điều kiện. Tình yêu thương của bà âm thầm lan tỏa, đủ lâu để sưởi ấm những trái tim tưởng chừng đã khép lại.
“Bà nội” không gây xúc động bằng những biến cố dữ dội, mà chạm đến người đọc bằng sự lặng lẽ và chân thành. Truyện nhắc nhở em rằng, trong dòng chảy vội vã của cuộc sống hôm nay, đôi khi điều đáng quý nhất lại chính là những con người giản dị, những tấm lòng âm thầm hi sinh mà ta vô tình bỏ quên. Đọc truyện, em càng thấm thía hơn giá trị của tình thân, của lòng nhân ái, và càng thấy cần phải biết yêu thương, trân trọng những người bà, người ông đang lặng lẽ đi bên đời mình.
Phân tích truyện ngắn Bà nội của Nguyễn Trịnh Thảo Đan – Mẫu 2
Ẩn sau những câu chữ giản dị và nhịp kể chậm rãi, truyện ngắn “Bà nội” của Nguyễn Trịnh Thảo Đan khẽ mở ra một miền cảm xúc sâu lắng, nơi hình ảnh người bà hiện lên mộc mạc mà ám ảnh, bình dị mà khiến lòng người day dứt. Tác phẩm không có những biến cố dữ dội, không dựng lên kịch tính gay gắt, nhưng lại chạm đến trái tim người đọc bằng tình bà cháu âm thầm và những suy ngẫm đầy xót xa về cách con người đối xử với nhau trong đời sống hiện đại.
Nổi bật trong truyện là hình ảnh đôi bàn chân của bà nội – chi tiết tưởng chừng nhỏ bé nhưng mang sức gợi lớn lao. Đó không chỉ là một đặc điểm ngoại hình “khác lạ”, mà còn là dấu ấn của cả một đời lam lũ. Đôi chân “khô quạch, nứt nẻ”, “choãi ra như cái chạc gỗ” đã in hằn biết bao năm tháng mưa nắng, ruộng đồng, vất vả và nhọc nhằn. Đôi chân ấy đã đi qua đói nghèo, qua những mất mát không lời, qua cả nỗi cô đơn lặng lẽ sau ngày ông mất. Hình ảnh bà thức dậy từ tờ mờ sáng, ngồi trước bàn thờ trò chuyện cùng người chồng đã khuất khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào. Ở bà, tình nghĩa vợ chồng, sự thủy chung và nỗi nhớ thương được thể hiện thật giản dị mà thấm thía.
Không dừng lại ở đó, truyện còn phơi bày sự lạnh nhạt, xa cách của con người nơi phố thị. Những ánh nhìn chăm chú, dè dặt hướng về đôi chân trần của bà; những cánh cửa đóng kín; những tiếng cười khúc khích ban đầu của lũ trẻ… tất cả như dựng lên một bức tường vô hình, khiến bà nội trở nên lạc lõng giữa không gian tưởng chừng đông đúc. Chính đôi bàn chân lam lũ – biểu tượng của một đời vất vả – lại trở thành ranh giới khiến bà không được đón nhận trọn vẹn, dù trong bà luôn đầy ắp yêu thương và thiện lành.
Thế nhưng, điểm sáng ấm áp nhất của truyện chính là tấm lòng bao dung của bà nội. Bà không giận hờn, không oán trách, vẫn lặng lẽ cho quà, nấu chè, kể những câu chuyện quê mộc mạc cho lũ trẻ. Sự nhẫn nại và yêu thương ấy dần xóa nhòa khoảng cách, cảm hóa những ánh mắt xa lạ, biến sự dè dặt thành thân quen, biến im lặng thành tiếng cười rộn ràng bên nồi chè đỗ đen ấm áp. Tình yêu của bà không ồn ào, nhưng bền bỉ và đủ sâu để chạm đến những trái tim tưởng chừng vô cảm.
Qua “Bà nội”, Nguyễn Trịnh Thảo Đan gửi đến người đọc một thông điệp nhẹ nhàng mà sâu sắc: đừng vội đánh giá con người qua vẻ bề ngoài, hãy biết trân trọng những con người bình dị quanh mình. Tác phẩm cũng nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị thiêng liêng của tình thân và lòng nhân ái – những điều tưởng chừng nhỏ bé, nhưng lại có sức sưởi ấm cả một đời người.
