Phân tích đặc sắc nghệ thuật của Kim Lân trong truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ

Bình chọn

Đề bài:  Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích, đánh giá đặc sắc nghệ thuật (xây dựng tình huống truyện, trần thuật, xây dựng nhân vật) của Kim Lân trong truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ.

ĐỨA CON NGƯỜI VỢ LẼ (Trích)

(Nam Cao)

Tư nằm dán mình trên giường. Đầu anh nặng trĩu trên chiếc gối bông cáu ghét. Mắt nhìn trân trân lên sàn nhà; lúc ấy anh không nghĩ ngợi gì. Hai tay nặng nề rời rạc, thỉnh thoảng lại cố gượng đập nhẹ xuống phản, để xua đuổi những nỗi tê tê buồn buồn chạy trong các ống xương. Anh xoay mình lại cho đỡ mỏi. Mắt se sẽ nhắm lại, và lắng nghe những cảm giác chạy trong người. Ruột anh xót như cào. Bụng hóp lại. Mặt phờ phạc. Anh thấy cáu kỉnh vẩn vơ, những muốn càu nhàu mấy tiếng. Tư đói quá, đói lả người đi. Đã hai hôm nay rồi, anh chưa có hột cơm nào vào trong bụng. […]

Tư là con vợ ba. Thầy mẹ anh lấy nhau không phải là đôi bên bác mẹ gả bán, không phải nhà hiếm hoi, không phải tình yêu. Cha anh hơn mẹ anh đến ba mươi tuổi. Mẹ già anh lấy mẹ anh về để có người cáng đáng việc đồng. Vốn là người quê mùa, nên việc đồng mẹ anh rất thạo. Mẹ già anh rất chiều quý, họ chiều vậy chẳng qua là muốn chạy việc. Thầy anh mất năm trước, mẹ già anh mất năm sau. Nhà không làm ruộng nữa. Các anh Tư đều đi chợ trên, Tư phải thôi học ở nhà. Hai mẹ con lâm vào cảnh thất nghiệp. Ruộng không có mà làm; đi buôn – buôn xùng buôn xằng thôi cũng không có vốn. Anh em họ mạc thì thờ ơ lạnh nhạt, họ coi hình như không có mẹ con Tư trong gia đình nữa. Vả lại dẫu rằng nghèo, nhưng mẹ anh rất khái, không muốn chịu tiếng nhờ ai. Bà đi khâu thuê vá mướn kiếm gạo về nuôi con. Nhiều khi không có việc làm, mẹ con đành chịu đói. Những hôm ấy, bà thường trốn tránh, bà rất sợ phải nhìn cảnh mẹ con đói khát. Muốn cho mẹ cất gánh nặng, đã nhiều lần Tư xin làm phó nhỏ mấy hiệu thợ may và sơn guốc, nhưng họ đều từ chối vì dạo này hàng ế. Họ hứa đến tháng tám này sẽ gọi anh làm. Bất đắc dĩ anh phải đóng vai ăn bám.

Tư nghĩ liên miên: anh thấy một niềm oán trách ngấm ngầm trong thâm tâm. Anh oán cha anh, người đã sinh ra anh mà săn sóc không chu đáo. Anh oán một cái gì không tên đã đẩy anh vào cảnh khốn quẫn. Tư nhếch một nụ cười thảm hại. Một ý tưởng chua chát hiện ra trong trí: là một thằng con vợ lẽ, không phải vì hương khói, chỉ là thằng thừa trong gia đình. Tư thấy bứt rứt khó chịu. Những ý tưởng hỗn loạn ở trong óc. Anh thong thả nằm xuống. Mắt nhắm lại, muốn ngủ đi, để những tư tưởng hắc ám khỏi đến quấy nhiễu. Nhưng không sao ngủ được với cái dạ dày. […]

Trên nhà, ông Cả vùng thức dậy. Ông vươn vai, bẻ khục, vặn mình kêu răng rắc. Ông vừa ngáp vừa gọi:

– Tư ơi?

– Dạ.

– Thoáng cái là lỉnh. Thoáng cái là lỉnh thôi.

Tư gượng gạo đứng lên, lệt xệt bước lên trên nhà. Ông Cả vứt một hào ra bàn, dịu giọng:

– Đi mua một hào phở?

– Vâng.

– Đem bát mà đi.

– Vâng.

Tư thất thểu lê bước. Tay bưng có bát phở mà mỏi rã rời. Khói bốc lên nghi ngút. Anh thèm quá. Trông những bánh tráng trắng phau mềm dẻo, ẩn hiện trong nước dùng váng sao, những miếng thịt bò mỏng tang xếp gọn ghẽ, những hành, mùi, hồ tiêu rắc lên trên, thơm ngào ngạt phả mãi vào mũi anh. Con tỳ, con vị như thức dậy, bụng sôi sùng sục, vần lên chuyển xuống. Nước bọt cứ ứa mãi ra, anh ao ước được một bát.

Tư đặt bát phở lên bàn cho anh, rồi lặng lẽ ra ngoài thềm. Ông Cả vừa ăn vừa cắm cáu gắt:

– Gớm! Phở! Ăn rẳng như đấm vào họng!

Tư se sẽ nuốt nước bọt. Thật là mỉa mai. Ăn xong, buông đũa buông bát, ông Cả vội vã cắp cặp ra đi. Ông còn cay mấy hội bạch cược hôm qua.

Ông Cả đi rồi. Tư cũng chẳng buồn ra đóng cửa. Anh định đem bát ra chậu ngâm, nhưng lại thôi, là vì anh thấy còn đến lưng bát nước dùng ăn thừa. Lúc khác ai còn giữ lại làm gì? Nhưng lúc này… Tư đưa bát phở lên mũi ngửi, mùi thơm ngào ngạt bốc lên. Anh nếm một ngụm chèm chẹp miệng. Trời ơi sao mà ngon thế! Anh ước ao giá mà được một bát cơm nguội trộn ăn thì phải biết! Nghĩ đến cơm nguội, anh lại nhớ đến một hôm, cũng đói như hôm nay. Thân, bạn chí thiết của anh, đến chơi nèo mãi anh về nhà. Rồi mời anh:

– Nhà đi vắng cả, chỗ anh em với nhau, tôi nói thật: anh ở đây ăn cơm nguội – cơm nguội thôi – với tôi cho vui nhé.

Cái bữa cơm nguội với cà ấy sao mà ngon thế! Tư còn nhớ mãi, có lẽ suốt đời: Tư so sánh ông Cả với Thân. Nỗi căm hờn nổi dậy trong lòng. Hai mắt anh quắc lên một cách dữ dội. Anh nghiến răng ném mạnh “bát phở” ra sân. Tiếng bát vỡ làm cho lòng anh dịu. Anh bật cười thấy mình vô lý và thấy tiêng tiếc. Tư thấy mỏi rã rời. Toàn thân run lên. Anh nằm lả xuống.

  Chiều tàn đã lâu. Cảnh vật thẫm lại. Gió khua lá lao xao. Những lùm cây đen thẫm lắc lư trên nền trời sẫm đục. Thân, một tay ôm gói bọc giấy báo, một tay đẩy mạnh cánh cửa. Một tiếng rít rền trong yên lặng. Anh xăm xăm bước, nhớn nhác nhìn vào mấy gian nhà tối om. Miệng lẩm bẩm:

– Quái sao nhà cửa để tối thế này!

Thân im bặt vì biết mình nhỡ lời. Anh thong thả bước lên nhà. Đặt gói lên bàn, Tư vẫn nằm rũ trên tràng kỷ không biết bạn đến. Thân lay bạn:

– Tư! Tư!

Tư thều thào:

– Thân đấy à?

– Ừ, Tư ngủ à?

Giọng Tư nhỏ đầy mệt nhọc:

– Không…Thân vào tôi cũng biết…, nhưng mệt…quá…

Thân ái ngại nhìn bạn trong bóng tối. Đoạn anh nói rất nhẹ nhàng:

– Tôi đem cho Tư ít hạt mít đây. Tư ăn đi.

Tư cảm động quá. Nước mắt chảy ròng ròng, anh nghẹn ngào:

– Thân tốt với tôi quá.

– Ồ! Anh.

Đôi bạn ngồi âm thầm trong bóng tối. Tiếng Tư nhai hạt mít trong im lặng. Tư chợt nghĩ đến mẹ, anh ngóc đầu bảo bạn:

– Thân cất đi cho tôi một nửa nhé.

Anh định tâm để dành cho mẹ, Thân ôn tồn:

– Ừ, còn nhiều anh ạ.

Tư lại nghĩ đến mình, đến tương lai. Một tương lai mờ mịt của đứa con vợ lẽ. Anh thở dài não ruột.

– Gì thế anh?

– Không.

Hai người im lặng.

(Đứa con người vợ lẽ, Kim Lân, Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 33, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 475 – 479)

Phân tích đặc sắc nghệ thuật của Kim Lân trong truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ

Bài làm Phân tích đặc sắc nghệ thuật của Kim Lân trong truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ

A. Yêu cầu

– Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 400 chữ.

– Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Tiếc thương sinh thái” trong phần Đọc hiểu.

– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

B. Hướng dẫn gợi ý

* Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận.

Tác giả:

-Kim Lân là một trong những cây bút chuyên viết truyện ngắn hàng đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Chủ yếu viết về đề tài người nông dân và nông thông Việt Nam trước CM.

-Là một minh chứng cho quan điểm “quý hồ tinh bất quý hồ đa”.

-Nhà văn Nguyên Hồng nhận xét về Kim Lân: “Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất và người, với những thuần hậu và nguyên thủy của cuộc sống nông thôn”.

Tác phẩm:

“Đứa con người vợ lẽ” được Kim Lân sáng tác trước cách mạng tháng 8/1945. Đây là một trong những truyện ngắn đặc sắc thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ vất vả của người nông dân thời kì đó.

Qua đó cho chúng ta thấy rõ cuộc sống và con người làng quê Việt Nam nghèo khổ nhưng tâm hồn luôn trong sáng, lạc quan, thật thà.

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, thường khai thác cuộc sống nghèo khó, khốn quẫn của người nông dân trong xã hội cũ với niềm cảm thông sâu sắc. Đứa con người vợ lẽ  là truyện ngắn đầu tay của ông đã gây ấn tượng mạnh mẽ không chỉ ở giá trị hiện thực, nhân đạo mà còn bởi những đặc sắc nghệ thuật nổi bật.

* Thân bài:

1. Nêu các điểm nổi bật về nội dung, ý nghĩa tác phẩm

– Tác phẩm cho thấy cuộc sống nghèo đói, bi đát của con người khi bị rơi vào cảnh là con thừa, con người vợ lẽ.

– Tác phẩm cũng đề cao phẩm chất của con người, dù trong hoàn cảnh nghèo đói vẫn có ý thức giữ gìn nhân cách.

– Tác phẩm phản ánh chân thực lề thói phong kiến, hủ tục đa thê trong xã hội cũ.

2. Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống truyện

– Truyện xây dựng tình huống: Tư là con một người vợ lẽ, thất nghiệp phải ăn bám nhà anh trai cùng cha khác mẹ, sống lay lắt trong những ngày đói thê thảm và tự thương cho thân phận của mình.

– Tình huống truyện góp phần thể hiện phẩm chất của nhân vật Tư.

– Tình huống truyện làm nổi bật chủ đề của tác phẩm: phận vợ lẽ, con thêm trong xã hội cũ.

3. Phân tích nghệ thuật trần thuật

– Truyện được kể ở ngôi thứ ba nhưng có sự chuyển đổi điểm nhìn linh hoạt: từ điểm nhìn của người kể chuyện sang điểm nhìn nhân vật, từ điểm nhìn bên ngoài đến điểm nhìn bên trong.

+ Diễn tả sự thay đổi tâm lý của nhân vật: oán trách, nhẫn nhục chịu đựng, phản kháng, chán chường.

+ Giúp giọng văn trở nên linh hoạt, đa dạng: giọng trần thuật khách quan, lạnh lùng, giọng phẫn uất, mỉa mai…

– Tổ chức mạch truyện: không theo trình tự thời gian.

+ Mở đầu tác phẩm Tư đang vật vã với cơn đói, mạch truyện hồi cố những chi tiết về quá khứ của nhân vật Tư.

+ Cảm xúc của Tư khi bị cái đói hành hạ, mùi thơm ngào ngạt của bát phở khiến Tư nhớ về Thân – người bạn chí thiết của anh.

+ Cách tổ chức mạch truyện theo tâm lí nhân vật giúp đi sâu khám phá, thể hiện đời sống nội tâm của nhân vật.

4. Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật

Truyện xây dựng nhân vật chủ yếu từ việc khắc họa đời sống nội tâm nhân vật: cái đói đã khiến Tư suy sụp cả thể xác lẫn tinh thần nhưng dù bị đẩy vào hoàn cảnh cùng đường, phải đứng trước cám dỗ tầm thường nhưng Tư vẫn có ý thức giữ gìn nhân phẩm.

5. Đánh giá, mở rộng

– Đứa con người vợ lẽ là truyện ngắn đầu tay tiêu biểu cho đặc điểm truyện ngắn của Kim Lân: cách kể chuyện tự nhiên, sử dụng ngôn ngữ tinh tế để miêu tả trạng thái tâm lí nhân vật. Tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

– Truyện mang dáng dấp từ cuộc đời thực của tác giả.

– Kim Lân đã khai thác và phản ánh chân thực thân phận con thừa trong xã hội cũ. Kết thúc tác phẩm gợi nhiều trăn trở, day dứt cho người đọc.

* Kết bài:

– Khẳng định giá trị nghệ thuật của tác phẩm truyện

Văn bản đã bộc lộ rõ nét phong cách nghệ thuật của nhà văn: Giọng văn chứa đựng tinh thần nhân đạo đã để lại cho độc giả nhiều suy ngẫm về phận đời của những con người đáng thương ở xã hội thực dân nửa phong kiến.

– Ngôn ngữ: Mộc mạc, đời thường, giản dị => tái hiện thành công bối cảnh hiện thực của Việt Nam dưới chế độ thực dân nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám.

Tác phẩm “Đứa con người vợ lẽ” đã khép lại nhưng có lẽ trong lòng mỗi bạn đọc vẫn bồi hồi, vương vấn những cảm xúc khó tả thành lời. Truyện đã để lại cho chúng ta bao bài học nhân sinh sâu sắc không còn không chỉ hôm nay mà còn mãi mãi về sau khẳng định cái tài cái tâm của người nghệ sĩ chân chính. Chính điều đó đã tạo nên sức sống mãnh liệt cho tác phẩm, khẳng định tên tuổi của nhà văn càng làm cho người đọc yêu thêm thế giới văn học hơn. Quả thật, năm tháng không ngừng trôi đi và lịch sử cũng không ngừng biến động nhưng truyện ngắn đã vượt qua lớp bụi của thời gian trở thành đóa hoa bất diệt, một nốt ngân đầy sáng tạo trong bản hòa tấu văn học.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *