Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều sông Thương của Hữu Thỉnh
Đi suốt cả ngày thu
vẫn chưa về tới ngõ
dùng dằng hoa quan họ
nở tím bên sông Thương
nước vẫn nước đôi dòng
chiều vẫn chiều lưỡi hái
những gì sông muốn nói
cánh buồm đang hát lên
đám mây trên Việt Yên
rủ bóng về Bố Hạ
lúa cúi mình giấu quả
ruộng bời con gió xanh
nước màu đang chảy ngoan
giữa lòng mương máng nổi
mạ đã thò lá mới
trên lớp bùn sếnh sang
cho sắc mặt mùa màng
đất quê mình thịnh vượng
những gì ta gửi gắm
sắp vàng hoe bốn bên
hạt phù sa rất quen
sao mà như cổ tích
mấy cô coi máy nước
mắt dài như dao cau
ôi con sông màu nâu
ôi con sông màu biếc
dâng cho mùa sắp gặt
bồi cho mùa phôi phai
nắng thu đang trải đầy
đã trăng non múi bưởi
bên cầu con nghé đợi
cả chiều thu sang sông.
Dàn ý Phân tích bài thơ Chiều sông Thương của Hữu Thỉnh
I. Mở bài
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
+ Chiều sông Thương là một bài thơ đặc sắc của tác giả Hữu Thỉnh.
+ Bài thơ viết về một buổi chiều yên bình trên dòng sông Thương – biểu tượng gắn liền với vùng đất Kinh Bắc và tình đất, tình người tha thiết nơi đây.
II. Thân bài
1. Phân tích nội dung bài thơ
a. Vẻ đẹp nên thơ của sông Thương lúc chiều buông
– Không gian ven sông hiện lên bình dị và thơ mộng:
+ “hoa Quan họ nở tím” bên bờ gợi cảm giác nên thơ, gắn liền với vùng đất Kinh Bắc, cái nôi của làn điệu dân ca quan họ.
+ Dòng sông vẫn “chảy đôi dòng” không chỉ là hình ảnh thực mà còn hàm ý nét đặc trưng của dòng sông Thương (chảy hai dòng nước ngược nhau), gợi cảm giác trôi đi lặng lẽ mà sâu lắng.
– Trên mặt sông, không gian sống động mà nên thơ: “cánh buồm đang hát lên” hình ảnh nhân hóa khiến con thuyền như mang theo nhịp điệu của cuộc sống, của lao động bình dị và tràn đầy niềm tin.
– Bầu trời và cảnh vật hai bên sông hòa quyện: “đám mây trên Việt Yên/ rủ bóng về Bố Hạ” gợi một không gian rộng mở, nên thơ, nối kết những miền quê bằng sự êm đềm, lặng lẽ của hoàng hôn.
– Cảnh vật gần gũi, bình dị bên dòng sông:
+ Ruộng lúa, nương mạ, lòng mương, lớp bùn, phù sa… những chi tiết giản dị nhưng giàu sức gợi, gắn liền với cuộc sống của người dân quê.
+ Gợi liên tưởng đến ước mơ mùa màng no đủ, làm nên sự thịnh vượng cho quê hương: “cho sắc mặt mùa màng/ đất quê mình thịnh vượng/ những gì ta gửi gắm”.
b. Tình cảm của tác giả dành cho dòng sông và quê hương
– Tác giả thể hiện niềm xúc động sâu lắng và trìu mến trước vẻ đẹp của cảnh vật quê hương.
– Sự thổn thức, ngỡ ngàng được dồn nén rồi vỡ òa thành tiếng thơ say đắm: “ôi con sông màu nâu/ ôi con sông màu biếc”
– Qua đó, bộc lộ tình yêu thiên nhiên, lòng tự hào và gắn bó sâu sắc với quê hương – nơi gắn liền với tuổi thơ, ký ức và cả tâm hồn thi sĩ.
2. Phân tích nghệ thuật bài thơ
– Hình thức thể hiện độc đáo: Không viết hoa đầu dòng tạo cảm giác tự nhiên, liền mạch, như dòng chảy cảm xúc của thi sĩ.
– Thể thơ ngũ ngôn (5 chữ)
– Nhịp thơ ngắn gọn, uyển chuyển, giàu nhạc tính, phù hợp với việc khắc họa hình ảnh thiên nhiên nhẹ nhàng, dung dị.
– Ngôn ngữ và hình ảnh thơ giản dị
– Biện pháp tu từ đặc sắc: so sánh, nhân hoá, điệp ngữ,…
III. Kết bài
– Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Chiều sông Thương là một bản hòa ca dịu dàng về quê hương, về dòng sông thân thuộc gắn bó với hồn người.
– Bài thơ để lại dư âm sâu lắng trong lòng người đọc, đồng thời thể hiện tâm hồn nhạy cảm, giàu yêu thương của tác giả trước vẻ đẹp của đất trời, xứ sở mình.

Bài văn mẫu Phân tích bài thơ Chiều sông Thương của Hữu Thỉnh
Mỗi độ thu về, mùa lại khơi dậy một nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca Việt Nam. Mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến thì trong veo, thôn dã; mùa thu của Lưu Trọng Lư lại phảng phất nét ngơ ngác, bâng khuâng; mùa thu Xuân Diệu dào dạt, quyến luyến. Còn mùa thu trong “Chiều sông Thương” của Hữu Thỉnh, một người lính từng bước ra từ chiến trường lại mang vẻ đẹp dịu dàng, thiết tha, gợi bao rung động sâu lắng trong lòng người đọc.
Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong quân đội, nổi bật với mảng thơ viết về nông thôn và mùa thu. Thơ ông như một làn gió nhẹ, thấm đượm hồn quê, mộc mạc mà tinh tế, giàu chất nhạc và chất tình. Trong số đó, “Chiều sông Thương” là một bài thơ giàu cảm xúc, mang đậm dấu ấn quê hương quan họ, nơi đã nuôi dưỡng hồn thơ ông với bao kỷ niệm không thể nào quên.
Cảnh chiều thu bên sông Thương hiện lên trong thơ đầy thi vị: dòng sông quê nhà như chảy tràn những thương nhớ, những xao xuyến của người con xa quê trở về. Không gian và thời gian đều nhuốm màu kỷ niệm, mang đậm tính nghệ thuật và cảm xúc nghệ sĩ. Bước chân người trở về khựng lại, đôi mắt trùm lên không gian làng quê thân yêu, lòng bâng khuâng xen lẫn niềm xúc động:
“Đi suốt cả ngày thu
Vẫn chưa về tới ngõ
Dùng dằng hoa Quan họ
Nở tím bên sông Thương.”
Câu thơ mở ra khung cảnh một chiều thu êm ả, dịu dàng với bước chân người con xa quê trở về trong tâm thế chậm rãi, bâng khuâng. “Đi suốt cả ngày thu” mà “vẫn chưa về tới ngõ” không phải bởi đường dài, mà bởi lòng người còn vướng bận những xúc cảm, kỷ niệm xưa cũ đang ùa về trên mỗi bước đi. Từ “dùng dằng” mang sức gợi cảm xúc mạnh mẽ: đó là sự do dự, níu kéo, bịn rịn không nỡ dứt, khi người về bị quyến luyến bởi hoa Quan họ nở tím bên sông Thương, loài hoa gợi nhớ đến những cô gái Kinh Bắc duyên dáng, nền nã. Màu tím của hoa, sắc thu của trời, vẻ đẹp dịu dàng của dòng sông quê tất cả như hòa quyện, làm người trở về say đắm trong một miền ký ức thiết tha. Khổ thơ là sự kết tinh giữa cảnh vật nên thơ và tâm hồn nhạy cảm, tạo nên một vẻ đẹp thuần Việt vừa nhẹ nhàng, vừa sâu lắng, vừa gợi thương, vừa gợi nhớ.
Dòng sông Thương trong thơ không chỉ là con sông mang nặng phù sa, mà còn mang theo hồn quê, mang theo những nhịp thở yêu thương từ mảnh đất mẹ. Cảnh vật được nhân hóa sinh động, như hòa cùng tâm trạng người trở về:
“Những gì sông muốn nói
Cánh buồm đang hát lên
Đám mây trên Việt Yên
Rủ bóng về Bố Hạ.”
Ngôn ngữ thơ giản dị, mượt mà nhưng thấm đẫm tình cảm.
Dòng sông quê không còn là một thực thể vô tri, mà dường như cũng có tâm hồn, có lời muốn thổ lộ với người con xa quê trở về. Câu thơ “Những gì sông muốn nói” mang sắc thái trữ tình sâu lắng, gợi nên một mạch cảm xúc âm thầm mà thiết tha. Hình ảnh “cánh buồm đang hát lên” là một liên tưởng độc đáo, gió đẩy buồm, buồm căng gió, tất cả tạo thành khúc hát của sông, của quê hương đang vui mừng đón người trở lại. “Đám mây trên Việt Yên / Rủ bóng về Bố Hạ” tiếp tục là một nét vẽ mềm mại, gợi không gian liên kết vùng miền, vừa cụ thể về địa lý, vừa trữ tình trong cảm xúc. Cả khổ thơ như một chuyển động dịu dàng của quê hương trong buổi chiều thu, tất cả đều có linh hồn, đều cùng chung nhịp đập yêu thương với con người. Đây không chỉ là bức tranh phong cảnh, mà là một khúc đồng ca ngọt ngào của thiên nhiên chan chứa tình người.
Cảnh sắc làng quê hiện ra thanh bình, ấm no, gợi một niềm vui lặng lẽ mà tràn đầy hy vọng:
“Mạ đã thò lá mới
Trên lớp bùn sếnh sang
…
Hạt phù sa rất quen
Sao mà như cổ tích.”
Hữu Thỉnh đã hòa mình vào cảnh vật, để cảm nhận bằng tất cả các giác quan vẻ đẹp của quê hương, của con sông, bờ lúa, vạt mạ. Những hình ảnh rất đời thường, mạ non, bùn ruộng, phù sa dưới ngòi bút tài hoa của nhà thơ đã trở nên sống động và giàu chất thơ. Câu thơ “Mạ đã thò lá mới” gợi tả sức sống đang vươn lên từ lòng đất, từ ruộng đồng thân quen, báo hiệu một mùa mới, một khởi đầu đầy hy vọng. Từ lá mạ đến lớp bùn “sếnh sang” cách dùng từ dân gian độc đáo khiến cho cảnh vật làng quê hiện lên gần gũi mà cũng thi vị lạ thường. Đặc biệt, hình ảnh “hạt phù sa rất quen” nhưng “sao mà như cổ tích” là một liên tưởng đầy xúc động. Những hạt phù sa gắn liền với tuổi thơ, với bao mùa gặt, bao lần tắm sông, nay vẫn đó, vẫn gần gũi mà lại gợi một cảm giác xa xăm, huyền diệu như bước ra từ miền ký ức cổ tích. Đó chính là cái nhìn đầy yêu thương, trân trọng và rung cảm sâu xa của người con trở về quê, khiến những điều bình dị bỗng lung linh như một giấc mơ đẹp.. Những cô gái quan họ hiện ra duyên dáng, e ấp trong dáng lao động cần cù, giản dị mà đầy sức sống:
“Mấy cô coi máy nước
Mắt dài như dao cau.”
Sự rung cảm dâng trào khi nhà thơ cất tiếng gọi tha thiết với dòng sông quê nhà nơi đã chứng kiến bao tháng năm tuổi thơ và những mùa vàng lặng lẽ trôi qua. Điệp từ “ôi con sông” cùng lối cảm thán đầy xúc động làm bật lên tiếng lòng tự hào và tình yêu sâu nặng với mảnh đất quê hương:
“Ôi con sông màu nâu
Ôi con sông màu biếc
Dâng cho mùa sắp gặt
Bồi cho mùa phôi thai.”
Cuối bài thơ, hình ảnh trăng non “múi bưởi”, “con nghé đợi”, “nắng thu trải đầy” hiện lên như một bức tranh đồng quê yên bình, đầy chất thơ. Mỗi chi tiết nhỏ đều gợi nên cảm giác thân thuộc, chan chứa yêu thương:
“Nắng thu đang trải đầy
Đã trăng non múi bưởi
Bên cầu con nghé đợi
Cả chiều thu sang sông.”
Cảnh vật quê hương trong “Chiều sông Thương” không chỉ đẹp bởi thiên nhiên mà còn đẹp bởi hồn người gửi gắm trong đó. Hình ảnh “nắng thu trải đầy” gợi một không gian ấm áp, chan hòa, phủ lên mọi cảnh vật một lớp ánh sáng dịu nhẹ, vàng óng. “Trăng non múi bưởi” là một liên tưởng độc đáo, đậm chất dân gian. Vầng trăng đầu tháng không tròn, mà chỉ lấp ló như múi bưởi tách ra từ lòng tay mẹ, khiến câu thơ trở nên vừa gần gũi, vừa gợi cảm. Cảnh vật như có hồn: con nghé bé bỏng đứng bên cầu “đợi” ,một hình ảnh giản dị mà đầy tính biểu tượng, khiến người đọc liên tưởng đến sự chờ đợi của quê hương, của tuổi thơ, của bao tháng năm xa cách. Và rồi, “cả chiều thu sang sông”, không gian, thời gian, cảnh vật như hòa tan trong dòng chảy của sông Thương, trôi đi nhẹ nhàng mà sâu lắng. Khổ thơ là sự kết tinh tuyệt vời giữa chất liệu dân gian với cảm xúc hiện đại, mang đến một cái kết vừa dịu dàng, vừa da diết, để lại dư âm tha thiết trong lòng người đọc. Dòng sông như một biểu tượng của mạch nguồn sống, của dòng chảy thời gian và ký ức, của những ân tình không bao giờ cạn. Bài thơ kết lại mà dư âm còn ngân vang, một buổi chiều thu Kinh Bắc chan chứa tình người, tình quê, như bước ra từ ca dao, từ cổ tích.
Với thể thơ năm chữ nhẹ nhàng, giọng điệu mềm mại, nhiều hình ảnh gợi cảm và các biện pháp tu từ linh hoạt, bài thơ không chỉ giàu chất thơ mà còn giàu chất nhạc. Hữu Thỉnh đã khéo léo kết hợp chất liệu dân gian với cảm xúc hiện đại để làm nên một bức tranh thu vừa dân dã, vừa tinh tế, vừa trữ tình, vừa sâu sắc.
“Chiều sông Thương” không chỉ là một bài thơ đẹp về cảnh mà còn là bài thơ đẹp về tình. Tình quê, tình người, tình yêu đất nước hòa quyện trong mỗi câu chữ, tạo nên một khúc nhạc thu nhẹ nhàng mà thấm thía một khúc nhạc ru lòng người vào miền ký ức ngọt ngào của quê hương.
