Đề bài: Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng viết:
“Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này nhưng thế giới này trong con mắt của nhà văn phải có một hình sắc riêng”.
(Bình luận văn chương, NXB Giáo dục, 1998)
Anh/ chị có đồng ý với ý kiến trên không? Chọn và phân tích một tác phẩm hoặc đoạn trích trong chương trình Ngữ văn 11 để làm sáng tỏ.
Dàn ý NLVH về ý kiến Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này nhưng thế giới này trong con mắt của nhà văn phải có một hình sắc riêng của tác giả Hoài Thanh
I. Mở bài
- Dẫn dắt bằng vai trò của văn học trong cuộc sống: Văn học vừa phản ánh hiện thực, vừa mở rộng thế giới tinh thần con người.
- Giới thiệu và trích dẫn ý kiến của Hoài Thanh: “Nhà văn không thể tách khỏi hiện thực đời sống, nhưng qua con mắt của mỗi nhà văn, hiện thực ấy phải được nhìn với một hình sắc riêng biệt, mang dấu ấn sáng tạo.
II. Thân bài
1. Giải thích ý kiến
- “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này”: Nhà văn là những người gắn bó mật thiết với cuộc đời, nên chất liệu sáng tác luôn phải bắt nguồn từ chính hiện thực xã hội, thiên nhiên, con người quanh họ.
- “Nhưng thế giới này trong con mắt của nhà văn phải có một hình sắc riêng”: Dù cùng khai thác hiện thực, nhưng qua góc nhìn, cảm xúc, trí tuệ của mỗi người nghệ sĩ, hiện thực ấy trở thành một thế giới nghệ thuật độc đáo, in đậm phong cách cá nhân, không trộn lẫn.
- Khái quát ý nghĩa:
- Nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa phản ánh hiện thực và sáng tạo cá tính.
- Khẳng định thiên chức của văn học là phản ánh cuộc sống, song giá trị lại nằm ở cái nhìn riêng biệt của người nghệ sĩ.
2. Bàn luận, phân tích mở rộng
- Văn học không tách rời hiện thực:
- Văn học từ xưa đã gắn bó máu thịt với đời sống, lấy con người làm trung tâm phản ánh.
- Nếu tách khỏi hiện thực, văn học chỉ còn là hư cấu giáo điều, xa rời cảm xúc, không có khả năng nâng đỡ tâm hồn.
- Nhưng không phải là sao chép hiện thực: “Văn học là sự thật ở đời” (Vũ Trọng Phụng), nhưng là sự thật được sàng lọc qua lăng kính nghệ thuật, thăng hoa thành cái đẹp.
- Nhấn mạnh cá tính sáng tạo:
- Phong cách chính là gương mặt riêng của nhà văn, thể hiện ở đề tài, chủ đề, cảm hứng thẩm mỹ, ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu…
- Nhà văn càng có phong cách độc đáo, càng tạo nên sức hút đặc biệt, để lại dấu ấn lâu dài.
3. Chứng minh qua tác phẩm
- Tính hiện thực:
- Nam Cao với “Chí Phèo” phản ánh xã hội nông thôn bần cùng, bất công, phơi bày bi kịch tha hoá con người.
- Nguyễn Tuân với “Người lái đò sông Đà” tái hiện núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, tráng lệ.
- Nét riêng, cá tính sáng tạo:
- Nam Cao nhìn hiện thực với con mắt xót xa, đau đớn cho kiếp người nhỏ bé, văn ông sâu sắc, lạnh lẽo, giàu chất triết lí.
- Nguyễn Tuân thể hiện vẻ đẹp qua ngôn ngữ điêu luyện, góc nhìn tài hoa, say mê cái phi thường, độc đáo.
- Thủ pháp nghệ thuật, ngôn ngữ, kết cấu:
- Nguyễn Tuân dùng nhiều từ Hán Việt, câu văn dài, nhịp biến hoá để tạo sự huy hoàng, tráng lệ.
- Nam Cao dùng lời thoại mộc mạc, đậm tính khẩu ngữ, giàu nội tâm.
4. Bài học rút ra
- Với người sáng tác:
- Phải bám sát hiện thực, nuôi dưỡng sự nhạy cảm trước cuộc đời.
- Đồng thời trau dồi cái nhìn riêng, không lặp lại chính mình hay mô phỏng người khác.
- Với người tiếp nhận:
- Khi đọc, cần quan tâm không chỉ “viết về cái gì” mà còn “viết như thế nào”, để khám phá phong cách, cá tính sáng tạo.
- Biết rung động và cùng đồng sáng tạo với tác giả, để nuôi dưỡng tâm hồn, hướng đến chân – thiện – mỹ.
III. Kết bài
- Khẳng định lại tính đúng đắn, sâu sắc của nhận định Hoài Thanh.
- Mở rộng: Nhờ có cái nhìn riêng ấy, văn học mới thật sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ, trở thành dòng sông mát lành tưới tắm tâm hồn nhân loại.

Bài văn mẫu NLVH về ý kiến Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này nhưng thế giới này trong con mắt của nhà văn phải có một hình sắc riêng của tác giả Hoài Thanh
Nhà phê bình Hoài Thanh từng khẳng định: “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt của nhà văn phải có một hình sắc riêng.” Câu nói ngắn gọn mà sâu sắc ấy đã chỉ ra quy luật bất biến của sáng tạo văn học: văn học phải bắt nguồn từ hiện thực đời sống, nhưng nhà văn không chỉ là kẻ chép lại máy móc mà phải mang vào đó dấu ấn của riêng mình một cái nhìn độc đáo, một phong cách không thể trộn lẫn. Thật vậy, trong bất kỳ thời đại nào, “cái tôi” của nhà văn chính là yếu tố đặc thù, là linh hồn làm nên giá trị và sức sống lâu dài cho tác phẩm.
Trước hết, ý kiến của Hoài Thanh nhấn mạnh vào mối quan hệ không thể tách rời giữa văn học và hiện thực. Nhà văn không có “phép thần thông”, nghĩa là không thể vượt thoát khỏi đời sống vốn có để tạo ra những điều hoàn toàn không tồn tại. Văn học không phải là cõi thần tiên phi thực, cũng không phải là mộng tưởng hão huyền. Ngay từ buổi sơ khai, văn chương đã là một hình thức “lưu giữ đời sống bằng nghệ thuật”, là tiếng nói của con người về chính thế giới mà họ đang tồn tại. Nhà thơ Tố Hữu từng khẳng định: “Cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn học.” Bởi vậy, hiện thực chính là mạch nguồn không bao giờ cạn của sáng tác. Nếu rời xa hiện thực, tác phẩm văn học sẽ trở thành thứ giáo điều vô hồn, xa lạ với tâm hồn và nhu cầu thẩm mỹ của con người.
Tuy nhiên, Hoài Thanh không chỉ dừng lại ở việc nhấn mạnh vai trò của hiện thực mà còn đặc biệt đề cao “hình sắc riêng” tức cái nhìn, cảm thụ, phong cách độc đáo mà chỉ riêng mỗi nhà văn mới có. Bởi lẽ, thế giới khách quan vẫn tồn tại đó, muôn đời giống nhau, nhưng qua lăng kính của người nghệ sĩ, nó sẽ được nhuốm màu cảm xúc, trí tuệ và nhân sinh quan riêng biệt, trở thành thế giới mang đậm dấu ấn cá nhân. Đó chính là “cái tôi sáng tạo”, là nét độc nhất vô nhị mà không ai có thể thay thế. Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng bày tỏ: “Tôi quan niệm, đã viết văn phải cố viết cho hay và viết đúng cái tạng riêng của mình. Văn chương cần sự độc đáo hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác.” Suốt đời, ông miệt mài đi tìm cái đẹp, say mê phát hiện “chất vàng mười” ẩn sâu trong tâm hồn con người, để rồi để lại cho văn đàn một phong cách tài hoa, uyên bác, phóng khoáng, có phần ngông nghênh mà chẳng ai có thể bắt chước. Chính “hình sắc riêng” ấy đã làm nên giá trị bất tử cho mỗi tác phẩm và tên tuổi người nghệ sĩ.
Nhìn lại lịch sử văn học, ta thấy rõ không tác phẩm nào chỉ đơn thuần là tấm gương phẳng phản chiếu hiện thực. Mỗi nhà văn đều để lại dấu ấn cá nhân của mình. Nếu Nam Cao đem đến những trang văn hiện thực sắc lạnh, giằng xé những thân phận bé mọn trong xã hội nửa thực dân nửa phong kiến, thì Thạch Lam lại ghi lại đời sống bằng cái nhìn tinh tế, lãng đãng, phảng phất nỗi buồn nhân thế. Nếu Tô Hoài mang đến những bức tranh miền núi Tây Bắc vừa thực vừa lạ trong Vợ chồng A Phủ, thì Nguyễn Huy Thiệp lại phơi bày hiện thực hậu chiến với giọng điệu lạnh lùng, sắc sảo. Dẫu cùng viết về con người, xã hội, nhưng mỗi tác giả đều khiến “thế giới này” có một hình sắc riêng không lẫn vào đâu được.
Đồng thời, chính cái tôi sáng tạo ấy đã góp phần làm giàu có, phong phú cho kho tàng văn học nhân loại. Bởi văn học không chỉ để phản ánh mà còn để khám phá chiều sâu tâm hồn, khơi dậy những khát vọng tốt đẹp, nâng đỡ con người vươn tới chân – thiện – mỹ. Nếu văn học chỉ dừng lại ở việc chụp ảnh hiện thực, nó sẽ trở nên khô khan, tầm thường. Nhờ có cái nhìn chủ quan dĩ nhiên phải trung thực và dựa trên chất liệu cuộc sống mà tác phẩm mới lay động lòng người, mới trở thành “lời hô đồng vọng của triệu tâm hồn”.
Từ đó, có thể thấy rằng lời của Hoài Thanh không chỉ là một nhận định lý luận khô khan mà còn là lời nhắc nhở thấm thía dành cho những ai cầm bút: hãy luôn gieo ngòi bút của mình vào mảnh đất hiện thực, đừng lạc bước theo những ảo ảnh xa vời, rỗng tuếch. Đồng thời, nhà văn cũng cần đủ can đảm để soi chiếu thế giới qua lăng kính độc đáo của chính mình, dám bộc lộ cái tôi riêng, dám khám phá những vẻ đẹp mà người khác chưa từng nhìn thấy. Chính hành trình gắn bó với đời sống, đồng thời kiên trì giữ lấy “hình sắc riêng” ấy mới là con đường chân chính đưa tác phẩm đến với giá trị bền lâu, để sống mãi trong lòng người đọc qua năm tháng.
