NLVH về ý kiến Mỗi nhà văn sáng tạo ra một thế giới của riêng mình

5/5 - (1 bình chọn)

Đề bài:

Có ý kiến cho rằng: “Viết văn, cũng chừng ấy ký tự, chừng ấy con chữ, mỗi nhà văn sáng tạo ra một thế giới của riêng mình. Thế giới của riêng mình nhưng lại không chỉ cho riêng mình”.

Bằng hiểu biết và trải nghiệm văn học, anh chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên”

Dàn ý NLVH về ý kiến Mỗi nhà văn sáng tạo ra một thế giới của riêng mình

1. Mở bài

  • Dẫn dắt từ ý nghĩa sáng tạo nghệ thuật: văn học là lĩnh vực của cảm xúc, trí tuệ và cá tính sáng tạo.

  • Giới thiệu và trích dẫn ý kiến.

  • Nêu vấn đề: Ý kiến nhấn mạnh đặc trưng sáng tạo của văn chương – mỗi nhà văn tạo ra một thế giới nghệ thuật độc đáo của riêng mình, nhưng thế giới đó luôn hướng đến và sẻ chia với người đọc.

2. Thân bài

2.1. Giải thích

  • Viết văn: Hoạt động sáng tác tác phẩm văn học bằng chất liệu ngôn từ.

  • Chừng ấy ký tự, chừng ấy con chữ: Vốn ngôn ngữ chung của mọi người – nguyên liệu ban đầu để nhà văn sáng tạo.

  • Thế giới của riêng mình: Không gian nghệ thuật độc đáo, mang dấu ấn cá nhân về tư tưởng, cảm xúc, trải nghiệm sống và phong cách sáng tác.

  • Thế giới của riêng mình nhưng lại không chỉ cho riêng mình: Tác phẩm không phải chỉ để thỏa mãn cá nhân, mà để chia sẻ, đối thoại, khơi gợi đồng cảm và suy ngẫm ở người đọc.

=> Ý kiến đề cập đến mối quan hệ giữa tính cá nhân và tính phổ quát trong sáng tạo văn học.

2.2. Bàn luận

2.2.1. “Chừng ấy ký tự, chừng ấy con chữ” – Nhà văn sáng tạo thế giới của riêng mình

  • Nhà văn là người lao động trên chất liệu ngôn từ, biết khai thác khả năng biểu đạt và vượt qua giới hạn của ngôn từ để sáng tạo tác phẩm.

  • Thế giới nghệ thuật phản ánh cái nhìn riêng của nhà văn về con người và đời sống – vừa có yếu tố thực tại, vừa thấm đẫm cảm xúc, tư tưởng và tưởng tượng nghệ thuật.

  • Thế giới ấy tồn tại trong hình thức nghệ thuật, kết tinh giá trị thẩm mỹ và tinh thần của tác giả.

  • Dẫn chứng:

    • Nguyễn Tuân với “thế giới của cái đẹp” gắn với người tài hoa, độc đáo ở khả năng biến hóa ngôn từ.

    • Nam Cao với “thế giới của những kiếp người nhỏ bé” chan chứa nỗi đau và tình thương.

2.2.2. Thế giới nghệ thuật “không chỉ cho riêng mình”

  • Sáng tạo nghệ thuật là hình thức giao tiếp thẩm mỹ: nhà văn gửi gắm tư tưởng, cảm xúc; người đọc tiếp nhận, đồng cảm và sáng tạo thêm ý nghĩa.

  • Thế giới nghệ thuật vừa riêng tư (dấu ấn cá nhân), vừa phổ quát (chạm đến trải nghiệm chung của nhân loại).

  • Tác phẩm văn học chỉ sống lâu bền khi được người đọc tiếp nhận và đồng hành cùng thời gian.

  • Dẫn chứng:

    • Thơ Đỗ Phủ xuất phát từ cuộc đời thực, nhưng trở thành tiếng nói nhân loại về tình thương và nỗi đau chiến tranh.

    • Lão Hạc của Nam Cao không chỉ là câu chuyện của một làng quê xưa mà còn là lời nhắc nhân bản về lòng tự trọng và tình thương.

2.3. Mở rộng

  • Tính độc đáo của thế giới nghệ thuật thể hiện qua phong cách sáng tác, lập trường tư tưởng, giọng điệu, cách xây dựng nhân vật và hình ảnh.

  • Chỉ những nhà văn tài năng, bản lĩnh mới tạo được thế giới nghệ thuật vừa riêng biệt vừa có sức lay động rộng lớn.

  • Người đọc muốn “chiếm lĩnh” thế giới ấy cần nâng cao năng lực cảm thụ, sự am hiểu văn học và vốn sống.

3. Kết bài

  • Khẳng định lại giá trị của ý kiến: sáng tạo văn học là hành trình tạo ra thế giới nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân nhưng luôn hướng đến sẻ chia, đồng cảm và kết nối.

  • Liên hệ bản thân: mỗi người khi viết, khi sáng tạo đều có thể góp một phần thế giới của mình cho đời sống chung, để ngôn từ trở thành cầu nối giữa trái tim với trái tim.

NLVH về ý kiến Mỗi nhà văn sáng tạo ra một thế giới của riêng mình (1)

Bài văn mẫu NLVH về ý kiến Mỗi nhà văn sáng tạo ra một thế giới của riêng mình

Trong Tùy Viên Thi Thoại, Viên Mai từng nhắc nhở: “Văn thì cứ suy tôn Hàn Dũ, thơ lại chỉ thấy thần tượng Đỗ Phủ, chẳng khác gì leo núi phải lên Thái Sơn, bơi thuyền phải ra Đông Hải vậy. Nếu cứ ôm lấy Đông Hải, Thái Sơn, mà ngoài ra không biết cái lạ của Thiên Thai, Vũ Di, cái đẹp của Tiêu Tương, Kinh Hồ thì người đó chỉ là anh đốn củi trên Thái Sơn, bác lái đò ngoài Đông Hải.” Ẩn sau lời ví von ấy là quan niệm: mỗi nghệ sĩ phải biết mở rộng tầm mắt, dám tìm đến những miền mới mẻ, độc đáo để sáng tạo. Văn chương cũng vậy, nhà văn cần tạo nên “thế giới của riêng mình”, một thế giới mang dấu ấn cá nhân nhưng đồng thời phải mở ra cho mọi người, để ai cũng tìm thấy phần của mình trong đó.

Từ ba màu cơ bản xanh – đỏ – vàng, hội họa tạo ra vô vàn bức tranh rực rỡ; từ bảy nốt nhạc, âm nhạc dệt nên những bản hòa âm muôn sắc thái; và cũng từ chừng ấy chữ cái, văn học đã sản sinh hàng ngàn tác phẩm với những không gian và cảm xúc khác biệt. Cái “thế giới riêng” ấy được tạo nên từ vốn sống, cá tính, cách nhìn đời và khả năng biến chữ nghĩa thành nghệ thuật. Viết văn, cũng cùng một bảng chữ cái, nhưng mỗi nhà văn lại mở ra một vũ trụ khác nhau, nơi chứa đựng tâm hồn, tình cảm và triết lý riêng của họ.

Thế giới riêng không chỉ tồn tại trong văn học. Van Gogh từ cửa sổ phòng bệnh đã vẽ nên Đêm đầy sao chan chứa cảm xúc hỗn mang; Beethoven trong đêm trăng đơn côi đã để lại Sonata Ánh trăng vừa dữ dội, vừa dịu êm. Nhưng có lẽ, ở văn chương, thế giới riêng mang tính phổ quát hơn: ai cũng có thể dùng ngôn từ để giãi bày, để kết nối với người khác. Văn chương cho phép mỗi người không chỉ “sở hữu” thế giới ấy mà còn chia sẻ nó.

Nguyễn Tuân từng nói: “Nghề văn là nghề của chữ”, là “dùng chữ nghĩa sinh sự để sự sinh”. Từ vốn chữ hữu hạn, ông đã tạo ra thế giới của những con người tài hoa, những sự vật mang vẻ đẹp văn hóa – thẩm mỹ. Trong sáng tác, Nguyễn Tuân tránh lặp lại bằng cách tung ra mọi biến hóa của từ ngữ: phi công Mỹ được gọi là “cướp trời, giặc trời, vân phỉ”, lính Mỹ bị giải đi là “một dây tù Mỹ, một dây tội tù, một chuỗi quỷ sống, một xâu vô lại”. Ở ông, thế giới riêng là sự độc đáo của ngôn từ và cách nhìn đời.

Tuy nhiên, tạo ra thế giới riêng không có nghĩa là tự cô lập khỏi nhân loại. Người nghệ sĩ chân chính vẫn đứng trong dòng chảy chung, tiếp thu tinh hoa tiền nhân để làm giàu cho sáng tác. Hàn Can vẽ ngựa thành công vì “lấy ngựa thực làm thầy”, Thạch Đào đời Thanh thì “nhặt góp hết thảy những đỉnh núi lạ rồi mới viết bản thảo”. Sáng tạo cá nhân phải dựa trên nền tảng hiện thực và di sản chung mới bền vững.

Thế giới riêng của nhà văn còn phải gắn bó mật thiết với đời sống. Nghệ thuật không thể xa rời thực tế; mỗi tác phẩm đều là kết tinh của thời đại, của những đổi thay và biến động mà tác giả trải qua. Đỗ Phủ – “Thánh thi” đã sáng tạo một thế giới thơ đượm tình yêu dân, ái quốc, phản ánh chân thực nỗi khổ loạn lạc. Thơ ông chạm đến trái tim người đọc bởi nó sinh ra từ đời sống thật, từ những trải nghiệm đau thương và đồng cảm sâu sắc với nhân dân. Và khi thế giới riêng ấy đủ sức lay động, nó sẽ không còn là của riêng ai. Như Tố Hữu từng nói: “Bài thơ hay làm cho ta không còn thấy câu thơ, chỉ còn cảm thấy tình người… như là của mình vậy.” Người đọc tìm thấy chính mình trong tác phẩm, và nhờ đó, thế giới riêng của nhà văn trở thành một phần của thế giới chung.

Ngày nay, “thế giới riêng” không chỉ là khái niệm nghệ thuật. Trên mạng xã hội, ai cũng có thể tạo ra một “không gian” cho mình, nhưng đáng tiếc, nhiều người biến nó thành nơi đóng kín, sẵn sàng mỉa mai và làm tổn thương người khác. Câu nói “thế giới của riêng mình nhưng lại không chỉ cho riêng mình” vì thế vẫn nguyên giá trị: thế giới riêng phải là không gian sẻ chia, gắn kết, chứ không phải tường thành của sự vị kỷ. Bởi lẽ, chính khi mở rộng cánh cửa thế giới của mình cho người khác bước vào, người nghệ sĩ và mỗi chúng ta mới thực sự làm giàu cho tâm hồn và cho đời sống chung

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online