Đề bài: Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn cho rằng: Thơ là phần người gửi vào ngôn ngữ.
Anh/Chị hãy làm sáng tỏ nhận đinh trên qua bài thơ sau:
Tự tình I
Hồ Xuân Hương
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom(1),
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om.
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá,
Thân này đâu đã chịu già tom.(Theo Thơ nôm Hồ Xuân Hương, NXB Văn học, 2008)

Bài làm NLVH về ý kiến của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn: Thơ là phần người gửi vào ngôn ngữ
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về thơ ca: Thơ là tiếng nói của cảm xúc, là nơi con người gửi gắm những rung động chân thành nhất của tâm hồn.
– Giới thiệu ý kiến của Chu Văn Sơn: Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn đã từng khẳng định: “Thơ là phần người gửi vào ngôn ngữ.”
– Dẫn vấn đề nghị luận: Nhận định này nhấn mạnh rằng thơ không chỉ là nghệ thuật của ngôn từ mà còn là nơi người nghệ sĩ gửi gắm tâm tư, tình cảm, thân phận và khát vọng của chính mình. Điều đó được thể hiện rõ trong bài thơ “Tự tình I” của Hồ Xuân Hương, là tiếng lòng chân thực, mạnh mẽ của người phụ nữ tài hoa nhưng bất hạnh trong xã hội phong kiến.
Thơ ca từ lâu đã được xem là tiếng nói của tâm hồn, là nơi con người ký thác những cảm xúc chân thành nhất của đời sống nội tâm. Bởi thế, nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn từng khẳng định: “Thơ là phần người gửi vào ngôn ngữ.” “Phần người” ở đây chính là đời sống tâm hồn, là những nỗi vui buồn, đau khổ, khát vọng mà nhà thơ trải qua; còn “ngôn ngữ” là chất liệu để người nghệ sĩ gửi gắm tâm hồn ấy một cách tinh tế, rung động nhất. Nhận định trên khẳng định cốt lõi của thơ ca, thơ không chỉ là nghệ thuật của lời, mà còn là nghệ thuật của trái tim. Trong nền văn học trung đại Việt Nam, nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một minh chứng tiêu biểu cho điều ấy. Qua bài thơ Tự tình I, nhà thơ đã gửi vào từng con chữ nỗi cô đơn, oán hận, phẫn uất và khát vọng sống, yêu mãnh liệt của người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh, khiến ngôn ngữ thơ trở thành tiếng nói chân thực của thân phận và tâm hồn.
2. Thân bài
* Giải thích ý kiến:
– Phần người: thân phận con người; cuộc đời, tình cảm, khát vọng của nhà văn…
– Gửi vào ngôn ngữ: gửi gắm thân phận, tâm hồn, tình cảm, cảm xúc qua ngôn ngữ thơ.
=> Nhận định khẳng định đặc trưng của thơ: thơ là nơi để nhà thơ thể hiện tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, thân phận bằng cách sử dụng ngôn ngữ.
* Bình luận:
– Thơ là phương thức trữ tình, thổ lộ tình cảm mãnh liệt, đã được ý thức, nơi nhà thơ chia sẻ, trút gửi tâm tư sâu kín, những giày vò và chấn động bên trong. Đối với nhà thơ, hoạt động sáng tạo thơ ca thực chất là sự giải phóng tâm hồn. Tình cảm trong thơ vừa mang tính cá thể vừa có tính điển hình, vừa là nỗi lòng riêng vừa là tiếng lòng chung.
– Cùng với tư tưởng, tình cảm, giá trị của bài thơ là những sáng tạo ngôn từ. Nhà thơ trải lòng mình qua ngôn ngữ nghệ thuật được chắt lọc, tinh luyện. Cảm xúc, tư tưởng, phần người được náu mình trong những ngôn từ vừa giản dị, vừa độc đáo.
* Làm sáng tỏ nhận định qua bải thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương
– Giới thiệu tác giả Hồ Xuân Hương, bài thơ Tự tình I
– Phần người được gửi vào ngôn ngữ trong bài thơ Tự tình I
+ Bài thơ là nỗi niềm, tình cảm, tâm tư của chính nhà thơ Hồ Xuân Hương: nỗi xót xa, oán hờn về kiếp hồng nhan; nỗi sầu thảm, não nề của lòng người lan tỏa, thấm vào ngoại cảnh; nỗi đau chất chứa khiến nhân vật trữ tình trực tiếp thổ lộ nỗi chán chường, rầu rĩ vì tình duyên muộn màng, lỡ dở; nhưng nữ sĩ vẫn thể hiện bản lĩnh cứng cỏi thách thức cuộc đời.
+ Bài thơ thể hiện tình cảm của Hồ Xuân Hương: khổ đau, phẫn uất, phản kháng. Tác giả đồng cảm với tiếng lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa. Từ đó, nữ sĩ khái quát được thân phận bi kịch chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
+ Bài thơ thể hiện khát vọng tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội xưa. Tác giả đã cất lên tiếng nói đòi nữ quyền, khẳng định bản lĩnh và phẩm chất của người phụ nữ.
– Bài thơ được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật độc đáo, sáng tạo đặc biệt là ngôn ngữ
+ Ngôn từ hàm súc, tinh tế, gợi cảm: bài thơ chất chứa nhiều sắc thái tâm trạng, nỗi niềm của con người.
+ Ngôn ngữ chữ Nôm bình dị, mộc mạc giàu sức gợi hình và lay động cảm xúc.
+ Cách sử dụng từ ngữ độc đáo: “mõ thảm”, “chuông sầu”, “già tom”. “mõm mòm”…’, cách gieo vần “om” tài tình, ấn tượng”….
* Đánh giá
– Nhận định trên hoàn toàn đúng với đặc trưng của thơ: Thơ ca chân chính muôn đời là điểm tựa tinh thần của con người được thể hiện qua sáng tạo ngôm từ độc đáo.
– Góp phần định hướng quá trình sáng tác và tiếp nhận tác phẩm:
+ Người nghệ sĩ cần nuôi dưỡng tình cảm mãnh liệt, đồng thời phải dụng công với chữ nghĩa trong sáng tạo thơ.
+ Trên cơ sở khám phá vẻ đẹp của hình thức ngôn từ, người đọc cảm nhận, phát hiện vẻ đẹp của cảm xúc, tư tưởng và người nghệ sĩ kí thác trong tác phẩm.
3. Kết bài
– Đánh giá lại vấn đề.
Có thể nói, nhận định của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn hoàn toàn đúng với bản chất sâu xa của thi ca. Mỗi bài thơ là một mảnh tâm hồn, một nhịp đập cảm xúc của người nghệ sĩ được kết tinh qua từng câu chữ. Bài thơ Tự tình I của Hồ Xuân Hương là minh chứng sống động cho điều ấy, nơi “phần người” của nhà thơ hiện lên thật rõ. Nữ sĩ vừa xót xa, vừa mạnh mẽ; vừa đau khổ, vừa kiêu hãnh. Ngôn ngữ thơ không chỉ chuyên chở nỗi lòng của một cá nhân mà còn vọng lại tiếng nói của biết bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Chính nhờ gửi trọn tâm hồn vào ngôn từ mà thơ Hồ Xuân Hương vẫn sống mãi, khiến mỗi con chữ đều run rẩy hơi thở của con người, của tình yêu và khát vọng tự do muôn đời.
📚 Tải Ngay Bộ Tài Liệu Ôn Thi Văn Học Đặc Sắc Nhất
⬇️ Nhận Định Văn Học Hay Nhất
⬇️ Cách Đưa Lí Luận Văn Học Vào Bài
⬇️ Tài Liệu Hay Dành Cho HSG
⬇️ Kỹ Năng Viết Mở Bài
⬇️ Nghị Luận Về Một Tác Phẩm Truyện
⬇️ Công Thức & Mở Bài Hay
