Cảm nhận về hình tượng bà lão trong đoạn trích Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ

Bình chọn

Đề bài: Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày cảm nhận về hình tượng bà lão trong đoạn trích Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ: 

(Tóm tắt phần đầu truyện: Bà lão ấy chồng chết từ khi thằng con trai mới lọt lòng. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi con mà chưa nhờ được một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Con vợ nó cũng vội vàng đi lấy chồng, đem đứa con gái lên năm giả bà. Bà đã ngót bảy mươi, nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng, thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, rồi bà ốm một trận thập tử nhất sinh, bà ngày càng yếu đi. Bà đi bế em thuê cho nhà người ta. Đến lúc chẳng có ai thuê nữa, không kiếm được tiền, hơn ba tháng bà ăn toàn bánh đúc. Tiền hết cả, bà ra chợ xin. Không ai cho nữa, bà nhịn đói. Cuối cùng bà tìm ta một kế, đến nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ, ngoài miệng nói là để thăm cháu vì nhớ cháu, thực chất là để xin một bữa ăn vì đói quá.)

…Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé cháu:

– Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé?

– Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nữa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì?

Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!

Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi:

– Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào! …

(Trích Tuyển tập Nam Cao, NXB. Thời đại, 2010)

Cảm nhận về hình tượng bà lão trong đoạn trích Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ

Bài làm Cảm nhận về hình tượng bà lão trong đoạn trích Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ

1. Mở bài:

– Khái quát chung về tác giả, tác phẩm

– Dẫn dắt vấn đề nghị luận: Cảm nhận về hình tượng bà lão

Trong văn học hiện thực Việt Nam, Nam Cao luôn biết đi sâu khai thác số phận con người trong xã hội cũ. Đoạn trích Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ đã khắc họa hình ảnh bà lão, một con người nghèo khổ, vất vả từ tuổi trẻ đến khi về già, phải chịu đói rét, bệnh tật và cô độc. Qua nhân vật bà lão, tác giả không chỉ phản ánh bi kịch của những người lao động nghèo mà còn làm nổi bật tấm lòng chịu thương chịu khó và phẩm giá con người trước số phận nghiệt ngã.

2. Thân bài: 

* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

– Khái quát được đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp của Nam Cao..

– Giới được tác phẩm: Một bữa no là một trong những truyện ngắn thành công của Nam Cao trước cách mạng, viết về đề tài người nông dân, vừa phản ánh được số phận người nông dân trước cách mạng, vừa thể hiện được tài năng nghệ thuật cùng tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao.

* Cảm nhận về hình tượng bà lão:

– Lai lịch nhân vật:

+ Là một bà lão nghèo, không có tên riêng, góa bụa, chồng chết từ khi con vừa mới lọt lòng; một mình thắt lưng buộc bụng, nuôi con trai khôn lớn.

+ Thằng con trai bà lớn lên, lấy vợ, bà chưa nhờ cậy được gì, nó cũng lăn đùng ra chết.

+ Người con dâu cũng vội vàng đi lấy chồng, để lại đứa con gái mới năm tuổi cho bà nuôi nấng.

+ Bà lão đã ngót bảy mươi, hết nuôi con giờ lại nuôi cháu.

-> Lai lịch của một bà lão đáng thương, cô độc, ở cái tuổi gần đất xa trời vẫn phải cực khổ mưu sinh.

– Bà lão là một người nông dân có cuộc đời khốn khổ, đáng thương:

+ Bà cực khổ nuôi đứa cháu gái đến khi nó mười hai tuổi thì cho làm con nuôi nhà người ta.

+ Cho đứa cháu đi làm con nuôi nhà người ta được mười đồng. Bà dùng tám đồng cải mả cho người con trai đã chết, còn hai đồng bà để đi buôn.

+ Sau một trận ốm thập tử nhất sinh, bà không thể đi buôn được nữa. Bà đi bế em cho nhà người ta nhưng rồi già yếu, cũng chẳng có ai thuê bà nữa.

+ Tiền hết cả, bà ăn toàn bánh đúc. Rồi bà ra chợ xin, đến khi không ai cho nữa, bà đành nhịn đói.

+ Cuộc đời bà nối tiếp nhau dằng dặc là những bất hạnh, vất vả, lo toan, khốn khổ, chạy ăn từng bữa, giống như cuộc đời của bao người nông dân khác cùng thời.

– Bà lão là hình ảnh của người nông dân bị cái đói đẩy đến chân tường, đánh mất cả lòng tự trọng:

+ Trong cái đói cùng quẫn, bà lão nghĩ ra một kế để kiếm được một bữa no sau bao ngày đói là đến nhà bà phó Thụ đã nhận nuôi cái Đĩ. Bước chân của bà đi theo tiếng gọi của miếng ăn.

+ Nam Cao đã miêu tả chi tiết hình ảnh bà lão trong bữa ăn: Bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì tiếc. Đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì.Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi, bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng.Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm.Bà rấm nốt.

+ Nhà văn diễn tả cả thái độ của bà phó Thụ, chủ nhà: lườm với nguýt rồi gắt gỏng “Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nữa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì?”

+ Hình ảnh bà lão vừa đáng thương, vừa đáng trách. Đó không còn là hình ảnh của một người mẹ, một người bà nhân hậu, hiền lành từng thắt lưng, buộc bụng để nuôi con, nuôi cháu nữa, mà là hình ảnh của một người đói không còn biết gì nữa ngoài cái bụng đói của mình.

–  Bà lão có chung cái kết đáng thương giống như biết bao người nông dân khác trong các sáng tác cùng thời: Cuối cùng, bà lão chết. Bà chết vì quá no:   Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ đượcVào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng; Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết.

-> Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của bà lão là “một bữa no” nhưng nguyên nhân sâu xa lại là bởi cái đói. Trong cơn đói khát hành hạ, bà không còn giữ được nhân phẩm, bà đã ăn một bữa ăn đầy tủi hờn, để rồi chết một cách nhục nhã.

* Đánh giá:

– Nghệ thuật: Tác phẩm là một minh chứng cho tài năng nghệ thuật viết truyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng. Nhà văn đã thành công trong nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật kể chuyện (ngôi kể, ngôn ngữ kể chuyện, điểm nhìn).

– Nội dung: Với hình tượng bà lão, nhà văn đã tạo được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm.

+ Truyện phản ánh cuộc sống khổn khổ của người nông dân cùng hình ảnh về xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng.

+ Truyện cũng thể hiện tiếng lòng đồng cảm, xót thương của nhà văn dành cho những con người khốn khổ. Đặc biệt, nhà văn gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự tha hóa của nhân cách con người trước miếng ăn, trước cái đói. Đó cũng là cảm quan hiện thực và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Hình tượng bà lão.

– Nêu cảm nhận của bản thân.

Qua hình tượng bà lão, nhà văn Nam Cao đã khắc họa sinh động nỗi khổ cực và bi kịch của con người lao động trong xã hội cũ, đồng thời làm nổi bật những phẩm chất nhân hậu, chịu thương chịu khó và lòng kiên cường của bà. Bà lão không chỉ là biểu tượng của những con người nghèo khổ mà còn là lời nhắc nhở về sự đồng cảm, trân trọng những giá trị nhân đạo trong cuộc sống. Hình ảnh bà lão ăn một bữa no đầy ám ảnh đã để lại trong lòng người đọc nhiều xúc cảm về bi thương, về tính nghiệt ngã của đời người, cũng như về tấm lòng bao dung, hy sinh âm thầm mà đáng trân trọng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Chỉ Tay Online